Học rùng mình
Xưa có người có hai con trai. Con trai lớn thông minh, khôn
ngoan, gặp khó khăn đến đâu cũng biết đường xoay xở. Còn em thì
ngu xuẩn, không biết gì, học gì cũng chẳng vào. Ai cũng phải kêu:
"Thằng này chỉ ăn hại bố". Việc gì cũng đến người anh làm cả.
Nhưng anh lại có tính dát. Tối đến, bố sai đi lấy cái gì mà phải qua
bãi tha ma hay nơi nào rùng rợn là anh ta từ chối: "Con chịu thôi,
bố ạ. Con run lắm, con không đi đâu".
Buổi tối, người nhà ngồi sưởi thường kể những chuyện sởn vẩy
ốc, thỉnh thoảng có người nói: "Rùng cả mình". Người em ngồi một
xó chẳng hiểu gì nghĩ bụng:
- Họ cứ nói mãi: "Rùng cả mình! Rùng cả mình!". Mình chẳng
thấy rùng mình gì cả. Hẳn đó là một thuật mà mình không biết tí
gì.
Một hôm, ông bố bảo người em:
- Này, bây giờ mày đã lớn, lại khỏe mạnh, con phải đi học lấy
một nghề mà kiếm ăn. Trông anh con đấy, nó chịu khó như thế, mà
con thì chả được việc gì.
Anh ta đáp:
- Thưa bố, con định học lấy một nghề. Con không biết rùng
mình. Nếu bố bằng lòng thì con xin học nghề ấy.
Người anh nghe thấy em nói thế, cười và nghĩ thầm:
- Trời ơi, thép xấu thì uốn sao thành được lưỡi câu.
Ông bố thở dài, nói:
- Chắc con sẽ học được rùng mình thôi, nhưng nghề ấy thì kiếm
ăn làm sao được.
Sau đó ít lâu, một hôm, người coi nhà thờ đến chơi nhà. Ông bố
kể cho khách nghe nỗi khổ tâm của mình vì con út ngu xuẩn, không
biết làm gì, học gì cũng không vào. Ông nói:
- Đấy, ông xem, tôi hỏi nó muốn học nghề gì kiếm ăn, thì nó bảo
muốn học rùng mình.
Ông khách đáp:
- Nếu chỉ học có thế thôi, thì tôi xin dạy cho nó ngay. Ông cho
nó lại đằng tôi, tôi làm cho nó bớt ngu đi cũng chóng thôi.
Ông bố những mong cho con hết ngớ ngẩn, đồng ý ngay.
Thế là chú ngốc đến nhà thờ làm công việc kéo chuông. Vài
hôm sau, vào khoảng nửa đêm, thầy đánh thức tớ dậy sai lên gác
kéo chuông. Ông nghĩ bụng: "Mày sắp học được rùng mình đến nơi
đây". Ông lẻn lên gác chuông trước. Khi anh ngốc trèo lên đến nơi,
quay lại sắp cầm dây chuông, thì thấy một cái bóng trắng trên cầu
thang, gần chỗ treo chuông. Anh ta quát lên:
- Ai đó?
Nhưng cái bóng cứ đứng im, không đáp mà cũng không nhúc
nhíc. Anh ta lại quát:
- Muốn sống nói mau, không thì bước ngay! Đêm khuya, có việc
gì mà đến đây?
Nhưng người coi nhà thờ vẫn không động đậy để anh ngốc
tưởng là ma.
Anh ngốc lại thét lên:
- Mày đến đây làm gì? Nếu mày là người ngay thì nói lên,
nhược bằng không thì tao quẳng xuống chân cầu thang bây giờ.
Người coi nhà thờ nghĩ bụng: "Nó chẳng dám đâu", nên cứ
đứng im. Hỏi đến lần thứ ba cũng không thấy trả lời, anh ngốc lấy
đà, du con ma xuống chân cầu thang. Ma lăn qua mười bậc, rồi nằm
sóng sượt ở một xó. Anh ngốc kéo chuông xong, lẳng lặng đi xuống
nằm ngủ kỹ.
Vợ người coi nhà thờ chờ mãi không thấy chồng về, đâm lo, đi
đánh thức anh ngốc dậy hỏi:
- Mày có biết ông nhà ở đâu không? Ông lên gác chuông trước
mày đấy mà!
Anh ta đáp:
- Thưa bà không ạ. Nhưng ở gần chỗ gác chuông thấp thoáng có
bóng người, con hỏi mãi không nói, đuổi cũng không đi, con cho là
ăn trộm, liền đẩy xuống chân cầu thang. Bà thử lên xem có phải
ông nhà không. Nếu phải thì con thật ân hận.
Vợ vội lên thì thấy chồng gẫy chân nằm ở xó cầu thang rên rỉ.
Bà cõng chồng xuống, rồi đến nhà bố chú ngốc, làm om lên:
- Con ông gây tai vạ, nó đẩy ông nhà tôi xuống chân cầu thang,
làm gãy mất một chân. Xin ông rước đồ ăn hại ấy ra khỏi nhà tôi đi.
Ông bố choáng người chạy bổ đến, mắng con một trận rồi bảo:
- Sao mày lại nghịch quái ác thế? Quỉ ám mày hay sao?
Con đáp:
- Thưa bố, bố hãy nghe con. Quả thật con oan, giữa đêm mà ông
ấy đứng đó như tính chuyện gì đen tối, con không biết là ai. Con đã
bảo ông ấy ba lần là hãy lên tiếng nếu không thì đi đi cơ mà.
Ông bố đáp:
- Trời ơi, mày chỉ làm khổ tao. Bước đi cho khuất mắt tao, tao
không muốn thấy mặt mày nữa.
Con nói:
- Con xin vâng lời bố. Nhưng bố hãy để sáng trời đã. Con sẽ đi
học thuật rùng mình để kiếm ăn.
Bố nói:
- Mày muốn học nghề gì thì mặc xác mày. Đây tao cho mày
năm mươi đồng tiền mà đi chu du thiên hạ, nhưng chớ có cho ai biết
là quê mày ở đâu và tên bố mày là gì, mà nhọ mặt tao.
Con nói:
- Thưa bố, bố muốn sao, con xin làm vậy. Nếu chỉ có thế thì
cũng dễ nhớ thôi.
Anh ta bỏ vào túi năm mươi đồng tiền, rồi sáng sớm ra đường
cái đi, lẩm bẩm luôn mồm: "Ước gì ta biết được rùng mình, ước gì ta
học được rùng mình...".
Một người đánh xe đi qua nghe thấy, liền hỏi:
- Tên anh là gì?
- Tôi không biết.
Người đánh xe lại hỏi:
- Anh ở đâu đến?
- Tôi không biết.
- Cha anh là ai?
- Tôi không thể nói được.
- Anh cứ luôn mồm lẩm bẩm cái gì thế?
- Ấy, tôi muốn học rùng mình mà chẳng ai dạy cho.
- Thôi đừng nói lẩn thẩn mãi, đi theo tôi, tôi tìm chỗ cho mà
ngủ.
Hai người cùng đi, đến tối thì tới một quán trọ, định ngủ lại đó.
Vào hàng, anh ta lại nói bô bô lên:
- Ước gì tôi biết được rùng mình, ước gì tôi học được rùng mình.
Chủ quán nghe nói bật cười bảo:
- Mày thèm khát cái đó thì đến đây vừa đúng lúc đấy.
Vợ chủ quán ngắt lời chồng:
- Chà, mặc người ta. Lắm cu cậu ngổ ngáo đã toi mạng. Nếu đôi
mắt xinh đẹp kia mà không còn được nhìn ánh sáng nữa thì thật
đáng tiếc.
Anh ta nói:
- Tôi đã cất công ra đi là để cốt học môn ấy, thì dù khó đến đâu
tôi cũng chẳng quản.
Anh ta quấy rầy mãi, ông chủ quán phải kể cho nghe rằng ở
gần đây có một lâu đài có ma, chỉ ngủ đấy ba đêm liền khắc biết thế
nào là rùng mình. Vua đã hứa ai cả gan làm việc ấy, sẽ gả công
chúa cho. Trong lâu đài lại có cả vàng bạc châu báu do mà quỉ giữ ,
ai lấy được tha hồ mà giàu. Đã có nhiều người vào, nhưng không
thấy một ai trở ra.
Sáng hôm sau, anh đến yết kiến vua, tâu: "Nếu bệ hạ cho phép,
tôi xin ngủ ba đêm ở lâu đài có ma". Vua ngắm anh ta hồi lâu, thấy
anh ta có duyên, bèn bảo:
- Ta cho phép nhà ngươi mang theo vào lâu đài ba đồ vật chứ
không được mang sinh vật.
Anh nói:
- Tôi xin cái gì để đốt lửa sưởi, một bàn thợ tiện và một ghế thợ
chạm có dao.
Ban ngày, vua sai người mang những thứ đó đến lâu đài. Chập
tối thì anh đến, đốt một đống lửa to trong một gian phòng, đặt dao
cạnh ghế thợ chạm, và ngồi bên bàn thợ tiện. Anh nói:
- Ước gì ta biết rùng mình! Nhưng ở đây rồi cũng đến toi công
thôi.
Nửa đêm, anh định thổi cho lửa bùng lên, chợt thấy tiếng kêu ở
góc buồng: "Meo! Meo! Bọn mình rét đến buốt xương".
Anh nói:
- Đồ chúng bay ngốc quá! Sao lại kêu như thế? Có rét thì lại
đây mà sưởi.
Anh vừa dứt lời thì có hai con mèo to tướng nhảy vọt đến ngồi
chồm chỗm hai bên anh, quắc mắt bừng như lửa nhìn anh một cách
dữ tợn. Lát sau, chúng sưởi đã ấm người, bảo anh:
- Mày có muốn chơi bài không?
Anh đáp:
- Có chứ. Nhưng các cậu hãy cho tớ xem chân đã. Hai con mèo
giơ móng ra.
Anh nói:
- Ôi chao, móng các cậu dài quá. Hẵng gượm, để tớ cắt bớt đi
cái đã.
Thế là anh tóm cổ chúng, đặt chúng lên ghế thợ chạm và cho
chân chúng vào kẹp, rồi nói:
- Chân các cậu làm tớ mất cả hứng chơi bài với các cậu.
Anh giết chúng, rồi quẳng xác qua cửa sổ xuống nước. Anh vừa
giết chúng xong, sắp quay về ngồi bên lửa, thì thấy rất nhiều mèo
đen, chó mực đeo xích sắt nung đỏ, từ bốn bề xông đến, mỗi lúc một
đông, anh không biết đứng vào chỗ nào nữa. Chúng cất tiếng kêu
ghê gớm, chực dập đống lửa cho tắt. Anh để mặc chúng làm ồn một
lúc. Nhưng khi anh thấy chúng hăng quá, anh bèn lấy dao ra, xông
vào quát lên: "Đồ súc sinh cút ngay!". Một số con chạy trốn, anh giết
những con còn lại, quẳng xác qua cửa sổ. Rồi anh lại về chỗ đống
lửa, thổi lên để sưởi. Lát sau, anh buồn ngủ díp mắt lại. Anh nhìn
quanh thì thấy ở góc phòng có một cái giường to. Anh nói: "May
quá", rồi lên giường nằm.
Anh vừa nhắm mắt thì thấy giường rung chuyển chạy khắp lâu
đài.
Anh nói:
- Được lắm, cứ việc mà tế lên nữa đi.
Giường chạy nhanh như xe tứ mã nhảy qua ngưỡng cửa cầu
thang và xông vào các phòng. Bỗng giường vấp, làm đổ lổng chổng
mọi thứ lên người anh. Anh gỡ mình ra, quẳng cả chăn gối, nói:
"Bây giờ đứa nào muốn nằm giường thì đi mà nằm!", rồi lại bên
đống lửa ngủ đến sáng.
Sớm hôm sau, vua đến lâu đài, thấy anh nằm dài dưới đất ngỡ
là anh đã bị ma giết.
Vua than:
- Anh chàng xinh trai này chết thật uổng quá.
Anh nghe tiếng nhổm dậy, nói:
- Tâu bệ hạ, chưa đến nỗi thế ạ.
Vua ngạc nhiên đên vui mừng, hỏi anh về chuyện xảy ra đêm
qua.
Anh đáp:
- Tâu bệ hạ rất bình yên. Thế là được một đêm, còn hai đêm
nữa rồi cũng đến thế thôi ạ.
Khi anh về quán trọ, chủ quán trố mắt ra nhìn, nói:
- Tôi không ngờ anh còn sống. Thế anh đã học được rùng mình
chưa?
Anh đáp:
- Khổ lắm, chỉ mất công toi. Giá ai dạy cho tôi thì hay quá.
Tối đến, anh lại đên tòa lâu đài cổ để ngủ đêm thứ hai. Anh
đến ngồi bên lửa rồi lại nói lải nhải: "Ước gì ta biết rùng mình!".
Nửa đêm, anh thấy tiếng động, trước còn khe khẽ, rồi to dần,
sau rõ hẳn. Im một lát, sau có tiếng thét lớn, một nửa thân người
rơi từ ống khói lò sưởi xuống trước mặt anh. Anh kêu lên:
- Còn nửa nữa đâu?
Thế là có tiếng ầm ầm, rồi nửa nữa hiện ra, đồng thời có những
tiếng hú và tiếng rên. Anh nói:
- Chờ một tí, rồi tao thổi lửa cho mà sưởi.
Sau khi đã nhóm lửa, anh ngoảnh mặt lại thì thấy hai nửa
người ban nãy đã liền lại với nhau thành một người ghê gớm ngồi
vào chỗ của anh. Anh nói:
- Không phải là chuyện thách thức nhau đâu, ghế này là ghế
của tao chứ.
Người ấy định cứ ngồi lì ở đấy, nhưng anh hẩy mạnh nó ra,
chiếm lại chỗ cũ. Rồi có nhiều người khác cứ lần lượt rơi từ ống khói
lò sưởi xuống. Chúng mang đến chín xương ống chân và hai đầu lâu
để chơi ki với nhau. Anh cũng muốn chơi, liền bảo:
- Này các cậu cho tớ chơi với nhé.
- Được thôi nhưng phải có tiền.
Anh đáp:
- Tiền thì có đủ, nhưng những hòn lăn của các cậu không được
tròn lắm.
Rồi anh để mấy cái đầu lâu lên bàn tiện mà tiện lại cho thật
tròn. Anh nói:
- Như thế này nó lăn dễ hơn. Bây giờ ta tha hồ mà chơi.
Anh chơi và thua mất ít tiền. Khi đồng hồ đánh mười hai tiếng,
tất cả bọn người kia biến mất. Anh nằm lăn ra đất, ngủ yên đên
sáng.
Sớm hôm sau, vua lại đến hỏi thăm việc đã xảy ra đêm hôm
trước. Anh nói:
- Tâu bệ hạ, tôi đã đánh ki và thua mất ít tiền.
Vua hỏi:
- Nhà ngươi có thấy rùng mình không?
Anh đáp:
- Thưa không ạ. Tôi đánh vui lắm. Tôi chỉ ước gì biết thế nào là
rùng mình.
Đêm thứ ba, anh lại ngồi ở ghế dài mà phàn nàn: "Ta muốn
biết rùng mình mà chẳng được".
Đến khuya, sáu người khổng lồ khênh một cỗ quan tài hiện ra.
Anh liền nói:
- Hừ! Chắc đây là em họ mình mới chết được vài hôm nay.
Anh ta đưa ngón tay ra hiệu gọi: "Lại đây, chú em ơi!".
Sau khi sáu người kia đặt quan tài xuống, anh tới giở tấm ván
thiên lên xem thì thấy xác một người. Anh sờ vào mặt người chết
thấy lạnh giá. Anh nói: "Để tôi sưởi cho chú một tí". Anh về chỗ
đống lửa, hơ nóng tay, rồi ấp vào mặt người chết. Nhưng người chết
vẫn lạnh như đồng. Anh khiêng người chết ra, đem lại gần đống
lửa, cho ngồi vào lòng, xát hai cánh tay vào cho máu lại tuần hoàn.
Thấy thế cũng không ăn thua, anh nghĩ rằng hai người nằm chung
một giường chắc ấm hơn. Anh bèn đặt xác chết lên giường, lấy chăn
phủ lên, rồi nằm kề bên cạnh. Lát sau, người chết đã ấm, bắt đầu
cựa quậy. Anh liền nói:
- Thấy chưa, chú nó ơi. nếu anh không sưởi ấm cho chú thì chú
đã đi đứt rồi nhé.
Người chết liền quát lên:
- Tao sắp bóp cổ mày đây.
Anh nói:
- Sao! Mày giả nghĩa tao như thế à? Tao lại bỏ mày vào săng
ngay vậy.
Tức thì anh nhấc nó lên ném vào săng, đóng nắp lại. Thế là sáu
người ban nãy lại đến khiêng cái săng đi ngay.
Anh nói:
- Nhất định ở đây ta không thể học được rùng mình.
Vừa lúc đó, một lão khổng lồ tóc bạc râu dài có vẻ hung dưo
bước vào.
Lão nói:
- Thằng nhãi kia, mày sắp được biết thế nào là rùng mình, vì
mày sắp chết!
Anh đáp:
- Đâu lại chóng thế? Còn xem tao có muốn chết không mới được
chứ.
Con quái đáp:
- Mày có bằng lòng hay không, tao cũng sắp bắt mày đây.
Anh nói:
- Khoan, khoan, mày đừng có làm bộ. Tao cũng khỏe bằng mày,
có khi còn khỏe hơn kia đấy.
Con quái nói:
- Ừ để xem sao – Nếu mày khỏe hơn tao, tao sẽ để cho mày yên.
Nào, ta đấy sức đi.
Nó dẫn anh qua những lối tối tăm đến một lò rèn, lấy một chiếc
búa, đập lên đe, đe thụt hẳn xuống đất.
Anh nói:
- Tao đập còn khỏe hơn mày.
Anh đi đến một cái đe khác. Con quái đứng sát ngay bên cạnh
đe để biết sức đập mạnh đến đâu. Bộ râu bạc hắn thõng xuống lòng
thòng. Anh vớ lấy búa, nện mạnh xuống đe, lôi cả râu bạc của nó
vào đó. Anh nói:
- Bây giờ tao tóm được mày rồi, thế là mày sắp phải chết.
Tức thì anh cầm thanh sắt đánh cho nó một chập. Nó rên rỉ
van lạy anh tha cho nó, nó sẽ cho nhiều của. Anh nhấc búa lên để
nó ra. Nó dẫn anh về lâu đài, đưa anh vào một cái hầm, trỏ cho anh
ba tráp đầy vàng, và bảo:
Một tráp dành cho kẻ nghèo, tráp thứ hai cho vua, tráp thứ ba
cho anh.
Bây giờ, đồng hồ vừa đánh nửa đêm. Lão kia biến mất. Còn
anh ở lại trong đêm tối. Anh nghĩ bụng: "Ta phải lần đường ra". Sờ
soạng hồi lâu lại thấy buồng cũ anh liền nằm ngủ bên đống lửa.
Sớm hôm sau, vua lại đến hỏi anh:
Chắc ngươi đã rùng mình được rồi chứ?
Anh đáp:
Như vậy thực là hay, nhưng tôi vẫn chưa biết thế nào là rùng
mình.
Người ta lấy ở hầm lên chỗ vàng mà con quái vật biếu anh. Lễ
cưới được cử hành. Tuy vui duyên mới, vị phò mã vẫn cứ nói lải
nhải: "Ước gì ta biết rùng mình!".
Công chúa thấy chồng nói dai, đâm ra bực mình. Thị tỳ tâu với
công chúa:
- Con sẽ xin giúp một tay làm cho phò mã rùng mình.
Ả ta ra con suối chảy qua vườn thượng uyển lấy một thùng
nước đầy cá bống mang về cung. Đêm ấy, phò mã đang ngủ say,
công chúa khẽ kéo chăn ra, đổ thùng nước lạnh đầy cá lên người
chồng. Cá quẫy khắp lên người, phò mã choàng dậy , reo lên:
- Mình ơi, tôi rùng mình quá thể. Thế là tôi đã biết thế nào là
rùng mình rồi.
Câu chuyện ca ngợi lòng dũng cảm và gan dạ của con người.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Anh và em gái
Một hôm, anh dắt em gái đi thủ thỉ nói:
- Từ ngày mẹ mất, anh em mình không có lúc nào sung sướng
nữa. Mẹ ghẻ hàng ngày đánh đập, xin cái gì thì thượng cẳng chân
hạ cẳng tay đuổi đi. Ăn thì chỉ có mấy miếng bánh mì đầu thừa đuôi
thẹo. Con cún ở chân bàn còn sướng hơn anh em mình, thỉnh
thoảng nó còn được mẹ ghẻ vứt cho một miếng ngon. Lạy trời phù
hộ để mẹ chúng mình thấy tình cảnh này! Thôi em ạ, anh em mình
hãy bỏ nhà đi đi.
Hai anh em đi suốt hai ngày qua đồng ruộng bãi hoang. Trời đổ
mưa, anh bảo em:
- Trời khóc cùng với anh em mình đấy.
Chiều tối, hai anh em tới một khu rừng to. Chúng đi đường xa,
vừa đói vừa mệt, chui vào hốc cây ngủ.
Sáng hôm sau, khi chúng bừng mắt dậy thì mặt trời đã lên cao,
nắng chiếu vào trong hốc cây. Anh nói:
- Em ạ, anh khát quá. Hễ gặp suối là anh uống ngay. Mà nghe
như có tiếng suối đâu đây.
Anh đứng dậy dắt em đi tìm suối. Mẹ kế vốn là một mụ phù
thủy. Mụ đã thấy hai đứa trẻ ra đi nên mụ rón rén bước theo. Mụ
phù phép vào tất cả các suối trong rừng.
Hai anh em thấy một cái suối chảy như thác bạc xuống đá. Anh
muốn uống, nhưng em nghe như có tiếng rì rào trong suối:
- Ai uống nước ta, sẽ hóa ra cọp. Ai uống nước ta, sẽ hóa ra cọp.
Em bảo anh:
- Em xin anh, anh chớ có uống, kẻo lại hóa thành thú dữ xé xác
em mất.
Anh khát đến cháy cổ, vẫn cố nhịn không uống:
- Thôi đợi đến suối sau.
Tới suối thứ hai, em nghe thấy tiếng rì rào:
- Ai uống nước ta, sẽ thành chó sói. Ai uống nước ta, sẽ thành
chó sói.
Em lại bảo anh:
- Anh ơi, em xin anh chớ có uống, kẻo lại hóa thành chó sói ăn
thịt em.
Anh không uống, nói:
- Đến suối sau, em muốn nói gì thì nói, thế nào anh cũng phải
uống, anh khát quá rồi.
Hai anh em đến suối thứ ba thì em nghe thấy tiếng rì rào:
- Ai uống nước ta sẽ hóa thành con mang. Ai uống nước ta sẽ
hóa thành con mang.
Em bảo:
- Ối anh ơi, em xin anh, anh chớ có uống kẻo lại hóa thành con
mang bỏ em mà chạy.
Nhưng anh đã quì gối, cúi xuống uống nước suối. Môi vừa dính
nước thì người đã hóa thành con mang.
Em khóc than thương hại cho anh. Con mang cũng khóc lóc và
ngồi rầu rĩ bên em. Mãi sau em mới nói:
- Anh mang thân mến ơi, anh mang cứ yên tâm, em sẽ không
bao giờ rời anh mang ra đâu.
Rồi em tháo nịt vàng ra buộc cổ mang, lại đi nhổ cói tết một sợi
dây mềm, dắt mang vào rừng sâu.
Người và vật đi mãi thì tới một căn nhà nhỏ. Em nhìn vào thấy
nhà bỏ không, nghĩ bụng ở lại đấy được. Em đi kiếm rêu và lá khô
làm đệm cho mang... Sáng sáng, em đi tìm củ, quả dại và hạt dẻ để
ăn, lấy cỏ non, đút cho mang ăn. Mang vui thích nhảy nhót quanh
em. Buổi tối, khi em mệt, em gối đầu vào lưng mang ngủ một giấc
ngon lành. Nếu anh lại biến thành người được thì cuộc đời của hai
anh em thật sung sướng.
Chúng sống quạnh hiu như vậy một thời gian trong rừng
hoang. Một hôm, vua tổ chức một cuộc săn lớn trong rừng. Tiếng tù
và, tiếng chó sủa, tiếng người đi săn hò hét cười đùa vang trời.
Mang nghe thấy, muốn nhập cuộc quá đi mất. Mang bảo em:
- Anh xin em, em hãy cho anh nhập cuộc săn. Anh không chịu
được nữa.
Mang van xin mãi, em đành để cho đi.
Em nói với mang:
- Nhưng thế nào chiều tối anh cũng phải về nhé. Em sẽ đóng
cửa lại để đề phòng bọn đi săn độc ác. Anh về nhớ gõ cửa nói: "Em
ơi em, hãy mở cho anh vào, để em nhận ra anh. Nếu anh không nói
thì em không mở cửa đâu nhé".
Mang nhảy ra ngoài trời rất là thảnh thơi vui thú. Vua và quần
thần thấy con mang đẹp, đuổi theo nhưng không kịp. Lúc tưởng là
bắt được đến nơi thì mang nhảy vọt qua bụi cây biến mất. Chiều
tối, mang về nhà gõ cửa nói:
- Em ơi em, hãy mở cửa cho anh vào.
Cửa mở, mang nhảy vào, nằm nghỉ suốt đêm trên đệm ấm.
Sáng hôm sau, cuộc săn lại bắt đầu, mang ta nghe tiếng tù và, tiếng
người đi săn la hò, sốt ruột bảo: "Em ơi em, mở cửa cho anh, thế nào
anh cũng phải ra mới được".
Em mở cửa cho mang ra và bảo: "Nhưng đến tối anh phải về
nhé, nhớ nói câu em dặn".
Vua và quần thần vừa thấy con mang đeo vòng vàng thì đuổi
theo liền, nhưng mang chạy nhanh hơn họ. Họ dồn mang suốt ngày,
đến tối thì vây được mang. Một người bắn trúng chân mang khiến
mang bị thương nhẹ, khập khiễng đi không được nhanh. Người đi
săn theo dõi mang đến tận căn nhà nhỏ và nghe thấy mang gọi:
- Em ơi em, hãy mở cửa cho anh vào.
Cửa mở ra rồi đóng lại liền.
Người đi săn nhớ kỹ những điều mắt thấy tai nghe, kể lại cho
vua. Vua phán: "Ngày mai lại đi săn".
Em thấy mang bị thương sợ lắm. Em lau sạch máu, đắp lá, bảo
mang:
- Mang ơi mang, mang ra nằm nghỉ trên nệm đi cho khỏi.
Nhưng vết thương nhẹ nên sáng hôm sau mang không thấy
đau gì nữa. Thấy ở bên ngoài cuộc săn lại nhộn nhịp, mang bảo:
- Mang không nhịn được nữa đâu, mang đi đây. Không phải dễ
mà bắt được mang đâu!
Em khóc lóc bảo:
- Lần này thì họ giết chết anh mất, rồi em ở một mình trong
rừng, chẳng ai nghĩ đến em nữa. Không, em không để anh ra đâu.
Mang đáp:
- Thế thì mang ở đây cũng đến sốt ruột mà chết. Hễ mang nghe
tiếng tù và là lòng lại rộn lên.
Em không biết làm thế nào, đành rầu rầu mở cửa. Mang vui vẻ,
nhảy tót vào rừng.
Vua trông thấy mang, ra lệnh cho các người đi săn:
- Đuổi nó cho đến đêm, nhưng chớ đụng đến nó.
Mặt trời vừa lặn thì vua bảo người đi săn đã đến báo vua lần
trước:
- Nào đi, ngươi hãy dẫn ta đến căn nhà nhỏ trong rừng.
Tới cửa, vua gõ và gọi:
- Em ơi em, hãy mở cửa cho anh vào.
Cửa mở, vua vào, thấy một cô gái đẹp tuyệt trần. Cô sợ quá vì
không thấy mang của mình mà lại thấy một người đội mũ miện
vàng. Vua nhìn cô rất dịu dàng, cầm lấy tay cô bảo:
- Nàng có muốn theo trẫm về cung làm hoàng hậu không?
Cô nói:
- Thiếp xin vâng, nhưng xin cho mang đi cùng, thiếp không bỏ
mang đâu.
Vua đáp:
- Mang sẽ ở với nàng suốt đời và sẽ không bao giờ bị thiếu thốn
gì.
Giữa lúc ấy thì mang nhảy vào. Em lấy dây buộc mang, dắt ra
khỏi nhà.
Vua đặt em lên ngựa cùng ngồi đưa về cung, làm lễ cưới rất to.
Em lên ngôi hoàng hậu, hai vợ chồng hưởng hạnh phúc lâu dài.
Mang được chăm nom săn sóc, tha hồ nhảy nhót trong vườn thượng
uyển.
Mụ dì ghẻ ác nghiệt đã làm cho hai anh em phải bỏ trốn, vẫn
tưởng là sau đó em bị thú rừng ăn thịt và anh thì bị bắn chết. Khi
mụ được tin cả hai anh em đều sung sướng thế thì mụ ghen tức
lồng lộn. Mụ lại nghĩ cách hại chúng. Con gái mụ xấu như ma lem,
chỉ có độc một mắt, dằn vặt mụ:
- Số con phải được làm hoàng hậu cơ!
Mụ an ủi con:
- Mày cứ yên trí. Tao sẽ không để lỡ dịp đâu.
Hoàng hậu đẻ ra một đứa con trai xinh đẹp, trong khi vua đi
săn vắng. Mụ phù thủy già chỉ chờ đợi lúc ấy. Nó hóa phép biến
thành một người hầu gái, vào trong phòng hoàng hậu nói:
- Tâu lệnh bà, nước tắm đã sẵn sàng, mời lệnh bà đi tắm cho
khỏe người, lệnh bà đi ngay kẻo nước nguội.
Con gái mụ đứng sẵn đó. Hai mẹ con khiêng hoàng hậu mệt lả
vào buồng tắm, khóa cửa lại bỏ đi. Chúng hun lửa ở trong buồng
tắm để cho bà hoàng hậu trẻ đẹp bị chết ngạt.
Mụ già làm xong việc ấy liền đội mũ cho con, đưa vào nằm
giường hoàng hậu. Mụ hóa phép cho con biến thành hoàng hậu
hình dáng vẻ người y hệt, nhưng không sao chữa được con mắt hỏng
cho con. Con mụ đành nằm nghiêng về mé mắt hỏng để vua không
nhận ra. Buổi tối, vua đi săn về, nghe nói hoàng hậu sinh con trai
mừng lắm, định tới giường hoàng hậu thăm.
Mụ già vội nói:
- Chớ chớ, bệ hạ chớ có kéo rèm lên. Hoàng hậu chưa nhìn ánh
sáng được đâu, phải nghỉ ngơi đã.
Vua lui về, không biết có hoàng hậu giả nằm trong giường.
Đến nửa đêm, mọi người đều ngủ, người bảo mẫu một mình
thức bên nôi Hoàng tử thấy cửa mở ra, hoàng hậu thật bước vào. Bà
bế con ở nôi ra, cho con bú. Rồi bà giũ gối cho con, đặt con nằm và
đắp chăn cho con. Bà cũng không quên con mang, bà đi tới góc
phòng nó nằm và vuốt lưng nó. Sau đó, bà lẳng lặng ra. Hôm sau,
người bảo mẫu hỏi lính canh có thấy ai ban đêm vào cung không.
Lính canh đáp:
- Không, chúng tôi chẳng thấy ai cả.
Hoàng hậu đến mấy đêm như thế mà không bao giờ nói một
câu gì. Người bảo mẫu nhìn thấy bà nhưng không dám nói hở cho ai
biết.
Sau một thời gian, hoàng hậu bắt đầu nói trong đêm tối:
- Con ta ra sao? Mang của ta ra sao? Ta còn đến hai lần nữa
thôi.
Người bảo mẫu không trả lời, nhưng khi hoàng hậu biến đi, thì
chị tìm vua kể lại hết. Vua phán:
- Trời! Sao lại có chuyện thế nhỉ! Đêm nay ta sẽ thức trông con.
Đến tối, vua vào buồng hoàng tử. Vào khoảng nửa đêm, hoàng
hậu lại hiện ra và nói:
- Con ta ra sao? Mang của ta ra sao? Ta còn đến một lần nữa
thôi.
Rồi hoàng hậu chăm sóc con như thường lệ, trước khi biến mất.
Vua không dám lên tiếng, nhưng đêm sau lại thức. Hoàng hậu nói:
- Con ta ra sao? Mang của ta ra sao? Ta đến lần này là lần cuối
cùng.
Vua không nhịn được nữa, liền chạy lại nói:
- Đúng nàng là vợ yêu quí của ta rồi!
Bà trả lời:
- Thưa đúng, em là vợ của nhà vua.
Vừa lúc đó thì nàng sống lại, tươi tắn, hồng hào, khỏe mạnh.
Nàng bèn kể lại cho vua nghe tội ác của mụ phù thủy độc ác và con
mụ.
Vua cho đem hai đứa ra xử. Chúng bị tội chết, án xử xong thì
mang lại hiện nguyên hình thành người. Hai anh em cùng nhau
sống sung sướng mãi đến khi chết.
Qua câu chuyện ta thấy rằng chân lý luôn thuộc về những
người trung hậu. Bằng tìm yêu của mình người em gái đã giải thoát
cho người anh và họ xứng đáng được hưởng hạnh phúc.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Ba bà kéo sợi
Ngày xưa có một cô gái lười biếng, không chịu kéo sợi. Mẹ cô
khuyên bảo thế nào cô cũng không nghe. Một hôm, bà mẹ không
chịu được nữa, tức quá đánh cô, cô khóc gào lên. Vừa lúc đó, hoàng
hậu đi qua nghe tiếng khóc bèn dừng xe lại, vào nhà hỏi bà mẹ vì
cớ gì mà lại đánh con gái đến nỗi nó kêu ầm lên thế. Bà mẹ sợ nói
con gái mình lười thì xấu hổ, nên mới tâu:
- Thần bảo cháu thôi đừng kéo sợi nữa vì nhà nghèo làm gì có
cúi đưa cho cháu, nhưng cháu cứ đòi kéo mãi.
Hoàng hậu nói:
- Ta thích nghe tiếng guồng sợi vù vù lắm. Ngươi cứ cho con gái
nhà ngươi đến cung, ta có nhiều cúi, nó tha hồ mà kéo.
Bà mẹ thấy vậy mừng lắm để hoàng hậu đem con gái về cung.
Về đến cung, hoàng hậu dẫn cô đến ba buồng đầy ngập cúi rất
tốt.
Hoàng hậu bảo cô gái:
- Con kéo cho hết chỗ cúi này. Kéo xong ta sẽ cho lấy con trai cả
ta. Con nghèo khổ ta không kể làm chi, chăm chỉ là của hồi môn quí
giá lắm rồi.
Cô gái rất lo vì dù có sống đến ba trăm năm và làm việc từ
sáng đến tối cũng không sao kéo hết chỗ cúi đó. Cô ngồi khóc một
mình ba ngày liền không nhúc nhích. Hôm thứ ba, hoàng hậu tới
ngạc nhiên thấy cô vẫn chưa làm gì cả. Nhưng cô thoái thác rằng vì
xa mẹ, buồn rầu nên chưa làm được. Hoàng hậu cũng cho là phải,
nhưng khi quay gót, dặn rằng:
- Mai con phải bắt đầu làm đi nhé.
Khi cô gái còn lại một mình một bóng, không biết xoay xở ra
sao. Trong lúc bối rối ra sao, cô ra đứng cửa sổ. Cô thấy có ba bà
đến. Bà thứ nhất có một bàn chân to bèn bẹt. Môi dưới bà thứ hai
trễ xuống quá cằm. Bà thứ ba có một ngón tay cái bèn bẹt. Ba bà
ngừng lại trước cửa sổ, ngước mắt lên nhìn cô và hỏi cô có việc gì
mà phải lo âu. Cô gái kể lể sự tình khốn khổ. Ba bà hứa sẽ đến
giúp:
- Nếu em bằng lòng mời chúng ta đi ăn cưới em, nếu em không
thẹn gọi chúng ta là chị họ, nếu em bằng lòng để chúng ta ngồi cùng
tiệc cưới với em, thì chúng ta sẽ kéo sợi giúp cho, chẳng mấy chốc
mà xong.
Cô gái đáp:
- Vâng, em rất đồng ý. Xin mời các chị vào làm ngay cho.
Ba bà thợ dệt lạ lùng vào buồng thứ nhất, thu xếp chỗ ngồi và
bắt đầu kéo sợi. Bà thứ nhất chắp sợi và đạp guồng. Bà thứ hai rấp
nước vào sợi. Bà thứ ba xe chỉ và ấn xuống bàn cho nhẵn. Mỗi lần
bà hất ngón tay cái là một con sợi rất mịn rơi xuống đất. Cô gái dấu
không cho hoàng hậu biết có ba bà giúp mình. Mỗi khi xe hoàng
hậu đến, cô cho hoàng hậu xem số sợi đã xe. Hoàng hậu khen cô hết
lời.
Cúi buồng thứ nhất xe hết, ba bà xe đến cúi buồng thứ hai. Rồi
đến cúi buồng thứ ba, chẳng mấy chốc cũng xe xong. Ba bà từ giao
cô và dặn:
- Em chớ quên lời hứa nhé, hạnh phúc sẽ tới với em.
Sau khi thấy buồng đã hết cúi và những con chỉ chất thành
đống, hoàng hậu định ngày cưới. Chú rể sung sướng lấy được vợ
khéo léo đảm đang, ca tụng vợ mãi.
Cô dâu nói:
- Em có ba người chị, họ đã giúp đỡ em nhiều. Trong hạnh phúc
của em, em không thể quên các chị ấy được, xin chàng cho phép em
mời ba chị đến ăn cưới và dự tiệc với chúng ta.
Chú rể và hoàng hậu nói:
- Nhẽ nào lại không cho phép?
Nghi lễ vừa bắt đầu thì ba bà đến, ăn mặc kỳ quặc. Cô dâu nói:
- Em xin chào mừng ba chị!
Chú rể hỏi thầm cô dâu:
- Chết nỗi, sao em có họ hàng xấu xí thế?
Rồi chàng hỏi bà có chân bẹt:
- Vì đâu mà chân bà rộng thế?
- Vì tôi đạp guồng.
Rồi chàng hỏi bà thứ hai:
- Vì đâu mà môi mà trễ như thế?
- Vì tôi rấp nước bọt vào sợi.
Rồi chàng hỏi bà thứ ba:
- Vì đâu mà ngón tay cái bà bèn bẹt?
- Vì tôi xe chỉ.
Hoàng tử khiếp sợ, nói:
- Từ nay về sau vợ đẹp của ta không được mó đến guồng sợi
nữa.
Thế là vợ chàng thoát được cái việc kéo sợi mà cô ta không
thích.
Câu chuyện nói lên rằng số phận con người thường gặp những
may rủi. Khi gặp may mắn thì một con người lười biếng nhưng biết
giữ lời hứa như cô gái trong truyện cũng trở nên sung sướng.
Nhưng các em chớ quên một điều sự may mắn không phải lúc nào
cũng chờ đón chúng ta mà nó chỉ đến khi các em thực sự chăm chỉ.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Thần chết đỡ đầu
Xưa có một người nghèo có mười hai đứa con. Bác phải làm
ngày làm đêm để nuôi chúng. Khi đứa con thứ mười ba ra đời bác
không biết xoay cách nào nữa, đành chạy ra đường cái nhờ người
nào gặp trước tiên đỡ đầu cho nó.
Thoạt tiên, bác gặp ngay Đức Chúa Trời. Người đã biết ý định
của bác, liền phán:
- Tội nghiệp, ta thương con lắm, ta rất muốn đỡ đầu cho cháu,
chăm sóc nó, làm cho nó sung sướng ở trên thế gian.
Người ấy hỏi:
- Ông là ai?
- Ta là Chúa Trời.
- Thế thì tôi không muốn ông đỡ đầu cho con tôi vì ông chỉ phò
người giàu sang và bỏ mặc kẻ nghèo khó đói rét.
Bác ta bèn quay đi tìm người khác. Bác gặp Quỉ. Quỉ hỏi:
- Bác tìm gì? Bác có muốn ta đỡ đầu cho con bác không? Ta sẽ
cho nó giàu nứt đố đổ vách và hưởng đủ khoái lạc trên đời.
Người kia hỏi:
- Ông là ai?
- Ta là Quỉ.
- Thế thì tôi không muốn ông đỡ đầu cho con tôi, vì ông lừa dối
và quyến rũ con người.
Rồi bác lại đi. Bác gặp Thần Chết. Toàn thân Thần Chết là mớ
xương khô. Thần tiến đến bảo bác:
- Bác để ta đỡ đầu cho con bác.
Bác hỏi:
- Ông là ai?
- Ta là Thần Chết, coi ai cũng như ai.
- Bác công bằng, coi người giàu kẻ nghèo như nhau. Vậy xin
bác đỡ đầu cho con tôi.
- Thế nào ta cũng làm cho con bác giàu sang như ta đã giúp cho
tất cả các bạn bè của ta.
- Thế đến chủ nhật sau sẽ làm phép rửa tội cho cháu, ông nhớ
đến nhé.
Thần Chết đến đúng hẹn và làm nhiệm vụ của người cha đỡ
đầu. Khi thằng bé đã lớn, cha đỡ đầu đến gọi đi. Thần dắt nó vào
rừng, chỉ cho nó một cây thuốc và dặn.
- Bây giờ ta mới cho con quà đỡ đầu. Ta sẽ làm cho con thành
một thầy thuốc lừng danh. Mỗi lần con đi thăm bệnh, ta sẽ hiện
đến. Khi con thấy ta đứng phía đầu bệnh nhân, con có thể nói
cương quyết rằng họ khỏi bệnh và con cầm lấy cây mà điều trị.
Nhưng nếu ta đứng về phía chân họ, thì ta sẽ bắt họ đi: con cứ việc
nói cho họ biết rằng dù có chạy chữa cũng vô ích, thầy thuốc nào ở
trần gian cũng không thể cứu được. Nhưng con phải cẩn thận chớ
dùng cây này ngược với ý ta, nếu không nghe ta thì lụy đến thân
đó!
Chẳng bao lâu, chàng thanh niên thành một thầy thuốc, danh
lừng bốn biển. Tiếng đồn là thoáng trông bệnh nhân thầy đã có thể
nói chắc chắn là chữa được hay chết.
Thiên hạ ở đâu đâu cũng kéo đến. Đâu cũng mời thầy và trả
thầy rất hậu, chẳng bao lâu thầy giàu có lắm.
Lúc bấy giờ, nhà vua lâm bệnh, cho mời thầy đến xem có cứu
chữa được nữa không. Khi vào cung, thầy thấy Thần Chết đứng ở
phía chân vua. Như vậy là không thuốc nào trị được nữa. Thầy nghĩ
bụng: "Giá phỏng mình đánh lừa Thần Chết một bận này, thì nhất
định Ngài giận lắm, nhưng chắc là cha đỡ đầu cũng lờ đi cho mình.
Vậy mình thử xem thế nào". Rồi thầy cho đặt nhà vua quay đầu về
phía Thần Chết và cho uống cây thuốc, vua khỏi bệnh.
Thần Chết hầm hầm đến chĩa ngón tay vào mặt thầy lang mà
mắng:
- Mày đã lừa ta, lần này thì ta tha cho mày vì mày là con đỡ
đầu của ta. Nhưng nếu mày còn dại dột lần nữa thì ta sẽ trị thẳng
tay.
Cách đấy ít lâu, công chúa ốm nặng. Vua chỉ sinh được một
mình công chúa, nên khóc đêm khóc ngày đến mù cả mắt. Vua ra
chiếu chỉ rằng ai chữa được bệnh công chúa sẽ được làm phò mã và
nối ngôi người. Khi thầy lang vào phòng công chúa thì thấy Thần
Chết đứng ở phía chân bệnh nhân. Lẽ ra thầy phải nhớ đến lời
người cha đỡ đầu dặn. Nhưng thầy thấy công chúa đẹp, thầy hy
vọng lấy được công chúa, thầy đâm lú lẫn quên hết, không để ý gì
đến Thần Chết đứng quắc mắt và giơ cả nắm đấm xương xẩu lên.
Thầy nâng công chúa cho xoay đầu về phía chân giường, rồi cho
uống cây thuốc. Đôi má công chúa ửng hồng và nàng khỏi bệnh.
Thần Chết bị lừa lần nữa rảo bước đến nhà thầy lang bảo:
- Thế là đi đời nhà mày! Bây giờ đến lượt mày chết.
Thần Chết đưa tay lạnh giá ra nắm chặt lấy thầy lang, khiến
thầy hết đường cựa quậy. Thần điệu thầy đến một cái hang ở âm
phủ. Ở đấy có hằng hà sa số là đèn đang cháy, lớn có, nhỡ có, nhỏ
có. Lúc nào ngọn này tắt thì lại có những ngọn khác bừng sáng lên,
muôn nghìn ngọn lửa chạy đi chạy lại trông tựa như đèn cù.
Thần Chết nói:
- Mày thấy chưa? Đây là những ngọn đèn sinh mệnh từng
người. Những ngọn lớn là của trẻ con, những ngọn nhỡ của vợ
chồng đang xuân, những ngọn nhỏ của các cụ già. Nhưng cũng có
những đèn sinh mệnh trẻ em và thanh niên mà chỉ có ít ánh sáng.
Thầy lang tưởng ngọn đèn sinh mệnh của mình còn to, xin cha
đỡ đầu chỉ cho xem.
Thần Chết trỏ cho thầy ngọn đèn rất nhỏ, chập chờn sắp tắt.
Thầy lang khiếp sợ, nói:
- Trời ơi! Cha thân mến, cha hãy thương con thắp cho con ngọn
khác, để con được hưởng cuộc đời của con, được lấy nàng công chúa
xinh đẹp, được làm vua.
Thần Chết nói:
- Ta không làm gì được, vì phải có ngọn này tắt trước thì mới
thắp ngọn khác lên được.
- Vậy thì cha hãy ghép chiếc đèn của con vào một chiếc đèn lớn
để đèn con tiếp tục cháy.
Thần Chết làm ra bộ chiều ý thầy lang, đi lấy một ngọn đèn to.
Nhưng trong thâm tâm, Thần muốn trả thù, nên cố tình đánh rơi
chiếc đèn nhỏ xuống đất cho tắt. Thầy lang lăn ra chết ngay và bị
Thần Chết bắt đi.
Chúng ta không nên để mất lòng tin của mình đối với người
khác. Khi chúng ta đã để mất lòng tin thì rất khó có thể lấy lại
được. Trong câu truyện các em vừa được đọc thầy lang đã lừa dối và
làm mất lòng tin đối với cha đỡ đầu là thần chết nên phải gánh một
hậu quả bi thảm.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Vua núi vàng
Một người lái buôn có hai con, một gái một trai đều nhỏ, chưa
biết đi. Bác trang bị hai chiếc tàu, đầy đủ hàng hóa quý giá, tất cả
gia tài, của cải đều ở đó. Bác tưởng lãi to. Không ngờ được tin cả hai
tàu bị đắm. Bác đang giàu hóa nghèo, chỉ còn một mảnh đất ở xa
thị trấn.
Muốn cho khuây khỏa bác ra đó, đi đi lại lại, bỗng bác thấy bên
mình có một người đen nhỏ bé hỏi bác tại sao lại buồn. Bác đáp là
bác sẵn lòng cho biết nếu y giúp được bác
Y nói:
- Biết đâu tôi lại chẳng giúp được bác điều gì có lợi.
Bác lái buôn liền kể lại của cải của mình đều bị chìm dưới biển.
Chỉ còn lại mảnh đất ấy.
Người kia đáp:
- Bác đừng lo. Bác muốn bao nhiêu tiền cũng có, miễn là bác
hứa với tôi khi về nhà, cái gì chạm vào chân bác trước tiên thì sau
mười hai năm nữa bác phải mang lại đây cho tôi.
Bác lái buôn nghĩ bụng: "Chắc chỉ có con chó của mình", vì bác
không hề nghĩ đến đứa con trai nhỏ. Bác nhận lời, thề với người đen
sẽ giữ lời hứa. Rồi bác về nhà.
Đứa con trai thấy bố về mừng quá, lần ghế đi đón bố và nắm
lấy chân bố. Bác nghĩ đến lời thề lòng đau như cắt, nhưng bác
chẳng thấy tiền đâu, bác yên dạ là người đen đùa bác thôi.
Một tháng sau bác lên buồng gác xép lấy ít bát đĩa bằng thiếc
đem bán thì thấy bát đĩa biến thành vàng cả rồi. Bác vui lắm. Bác
bán đi lấy tiền mua hàng, bác giàu hơn trước nhiều.
Lần lần con bác lớn, trí óc mở mang, nhưng thấy con gần tới
tuổi mười hai thì bác lái buôn càng đâm lo, lo hiện ra mặt. Một hôm
con hỏi bố tại sao lại có vẻ lo, bố không muốn nói. Con năn nỉ mãi,
bố phải thú thật là xưa kia bác đã dại dột thề là năm nó mười hai
tuổi sẽ giao nó cho một người đen, đền bù lại số vàng bạc người đó
đã cho bác. Đứa con đáp:
- Bố không phải lo. Việc rồi đâu sẽ vào đó, người đen sẽ không
có quyền lực gì đối với con đâu.
Nó đến xin một vị linh mục ban phép thành cho.
Đến ngày hẹn, nó đi với bố ra mảnh đất ngoài thị trấn. Tới nơi,
nó vẽ một vòng tròn cùng bố đứng vào giữa. Người đen hiện ra bảo
bố:
- Bác có mang đến cái bác đã hứa với tôi không.
Bác lái buồn im lặng nhưng đứa con trai hỏi:
- Bác đến đây tìm gì?
Người đen đáp:
- Tao nói với bố mày chứ không nói với mày.
Đứa bé đáp:
- Bác đánh lừa bố tôi. Bác hãy xóa bỏ lời thề trong óc bố tôi đi.
Người đen đáp:
- Không, tao không bỏ quyền lợi của tao.
Họ thảo luận với nhau rất lâu rồi đồng ý với nhau như sau:
Đứa con trai sẽ không thuộc vào bố cũng không thuộc vào người
kia. Nó sẽ phải ngồi vào một chiếc thuyền ở ven sông, bố sẽ lấy chân
đẩy ra giữa dòng để con trôi theo ngọn nước.
Đứa con từ biệt bố, ngồi vào thuyền và chính bố đẩy thuyền đi.
Thuyền lộn nhào. Người bố tưởng con đã chết liền để tang con.
Nhưng chiếc thuyền không đắm, lơ lửng trôi đến một bến xa lạ
rồi đứng lại. Anh thanh niên lên bờ, thấy đằng xa có một tòa lâu
đài, liền đi về hướng ấy, anh vào thì thấy lâu đài bị phù phép, anh
qua các phòng, phòng nào cũng trống rỗng. Ở phòng cuối cùng, anh
nhìn thấy một con rắn nước. Đó là một cô gái bị phù phép. Cô thấy
anh mừng rỡ bảo:
- Anh đến giải thoát em đấy à? Em đợi anh mười hai năm nay
rồi. Cả nước này bị phù phép, anh phải giải thoát đi.
Anh hỏi:
- Tôi phải làm g´?
Cô đáp:
- Đêm nay có mười hai người đen mang nặng xiềng xích hỏi
anh làm gì ở đây. Anh đừng đáp, kệ cho chúng muốn làm gì anh thì
làm. Chúng sẽ hành hạ anh, đánh đập anh, đâm anh. Đến nửa
đem, chúng sẽ phải bỏ đi. Đêm thứ hai, mười hai người khác sẽ đến,
đêm thứ ba sẽ có hai mươi bốn người đến chặt đầu anh. Nhưng cứ
đến nửa đêm là chúng sẽ mất hết phép thuật. Nếu anh cứ để chúng
hành hạ mà không nói nửa lời thì em sẽ được giải thoát. Em sẽ lấy
một chai nước hồi sinh bóp cho anh tỉnh lại, anh sẽ sống và lành lặn
như trước.
Anh thanh niên đáp:
- Tôi sẵn lòng giải thoát cho cô.
Việc xảy ra đúng như lời cô nói. Bọn người đen không cậy được
anh nửa lời. Đến đêm thứ ba, con rắn nước hóa ra nàng công chúa
xinh đẹp, lấy nước hồi sinh bóp cho anh tỉnh lại. Cô ôm cổ anh hôn,
ở lâu đài mở hội linh đình. Lễ cưới được tổ chức, anh trở thành Vua
Núi Vàng.
Hai vợ chồng cùng nhau sống sung sướng. Hoàng hậu sinh con
trai. Tám năm sau, vua nhớ bố tha thiết, muốn gặp lại bố. Hoàng
hậu không muốn để vua đi, ngăn lại:
- Em sẽ phải đau khổ, nếu chàng đi.
Nhưng rồi bà cũng phải bằng lòng.
Khi vua lên đường, bà trao cho vua một chiếc nhẫn thần và
bảo:
- Chàng đeo nhẫn này vào ngón tay, muốn đi đâu tự khắc đến
ngay. Nhưng chàng phải hứa cùng em là đừng dùng nhẫn bắt em
đến chỗ bố chàng.
Vua hứa rồi đeo nhẫn vào ngón tay, ước gì mình đến được thị
trấn bố ở. Vua tới nơi liền, nhưng lính canh thấy vua ăn mặc quần
áo tuy lịch sự nhưng kỳ lạ thì không để vua vào thành. Vua liền
đến một ngọn đồi đổi quần áo cho một gã chăn chiên, vào thành
không bị lôi thôi gì.
Khi vua đến trước mặt bố, xưng tên tuổi. Người bố nói rằng
mình quả là có một cậu con trai, nhưng nó đã chết từ lâu ông
thương hại gã chăn chiên tội nghiệp bố thí cho một bữa ăn.
Người chăn chiên liền bảo bố mẹ:
- Chính con là con trai bố mẹ đây mà. Con trai bố mẹ có dấu vết
gì trên người khả dĩ nhận được ra không?
Người mẹ nói:
- Có, con trai chúng tôi có một dấu giống như quả dâu ở dưới
vai bên phải.
Vua vén tay áo lên thì quả có thấy dấu một quả dâu. Hai ông
bà chắc chắn là con trai mình thật. Người thanh niên kể lại mình là
Vua Núi Vàng, mình đã lấy một nàng công chúa, hai vợ chồng đã có
một đứa con trai lên bảy tuổi rất xinh đẹp.
Bố nói:
- Ta không tin một tí nào. Kẻ đứng trước mặt ta ăn mặc quần
áo chăn chiên tồi tàn không thể nào là vua được.
Người con trai nghe nói tức lắm, quay chiếc nhẫn ước sao vợ
con đến ngay bên mình.
Họ đến ngay. Nhưng hoàng hậu khóc lóc, than vãn, trách
chồng không giữ lời hứa khiến bà đau khổ. Chàng xin nàng tha lỗi
cho mình, nói là mình vô ý hành động, chứ không có định phỉ báng
nàng. Nàng làm ra bộ tha lỗi cho chàng, nhưng nhất quyết trả thù.
Một hôm, chàng dắt nàng ra ngoài thị trấn và chỉ cho nàng chỗ
con sông mà trước kia chàng đã xuống thuyền trôi theo dòng nước.
Hai người cảm thấy mệt nhọc, ngồi xuống. Chàng gối đầu vào lòng
nàng, chẳng bao lâu ngủ thiếp đi, nàng tháo nhẫn ở ngón tay chàng
ra, để lại chiếc hài ở dưới chân chàng rồi ước được về cung với con.
Chàng tỉnh dậy, thấy mình bị bỏ rơi. Ở dưới đất có chiếc hài
còn chiếc nhẫn đã biến mất. Chàng định trở về với bố mẹ, lại sợ bố
mẹ cho mình là tên trí trá. Chàng tìm cách trở về nơi mình trị vì.
Chàng lên đường gặp ba tên khổng lồ đang cãi nhau vì chia gia tài
của bố để lại. Chúng thấy chàng, gọi lại nhờ chàng phân xử. Chúng
nói là con người nhỏ bé tinh khôn hơn chúng.
Gia tài gồm một thanh gươm, một chiếc áo khoác và một đôi
giày ủng. Khi người có gươm hô: "Tất cả đầu rụng xuống đất, trừ
đầu ta" thì lời ước thành sự thật trong nháy mắt. Ai mặc chiếc áo
khoác thì thành vô hình. Ai đi đôi giày ủng thì muốn đi đâu là đến
được đấy.
Chàng bảo:
- Hãy đưa cho ta các vật để ta xem, chúng nó còn có đức tính ấy
thật không?
Chúng đưa cho chàng chiếc áo khoác. chàng vừa mặc vào thì đã
trở thành vô hình, và biến ra con ruồi. Sau đó chàng lại hiện
nguyên hình người và bảo:
- Cái áo khác tốt đấy, giờ đưa cho ta thanh gươm.
Nhưng bọn chúng từ chối, sợ chàng dùng gươm làm cho chúng
rụng đầu. Sau chúng đưa cho chàng miễn là chàng thử gươm vào
cây thôi. Chàng nhận lời, chặt một cây sồi to trong khoảnh khắc.
Chàng lại hỏi đôi giầy ủng. Nhưng chúng từ chối và bảo nếu chàng
muốn lên đồi thì được lên đồi ngay và như vậy chúng bị thiệt.
Chàng hứa là sẽ không làm gì, chúng đưa giầy cho chàng.
Khi nắm được ba bảo bối, chàng chỉ nghĩ đến vợ con, liền lẩm
bẩm:
- Ước gì ta ở Núi Vàng.
Chàng liền biến khỏi mắt bọn khổng lồ, và như vậy, gia tài của
chúng đã bị chia mất.
Chàng tới gần lâu đài của mình, thì nghe thấy tiếng nói đùa
vui vẻ, tiếng đàn vĩ cầm và tiếng trống vang rộn. Người ta cho
chàng biết là vợ chàng làm lễ cưới lấy một người khác. Chàng nổi
giận nói:
- Con khốn khiếp! Nó lừa ta, bỏ ta trong khi ta ngủ.
Chàng liền mặc áo tàng hình rồi vào lâu đài. Chàng vào phòng
lớn thì thấy một bàn tiệc lớn hết sức thịnh soạn, khách khứa ăn
uống vui vẻ. Vợ chàng ở giữa, ngồi trên ngai vàng, đầu đội mũ
miện. Chàng đứng sau nàng mà nàng không thấy. Hễ có thức ăn bỏ
vào đĩa nàng là chàng lấy ăn liền. Nàng được tiếp thức ăn, đồ uống
luôn luôn mà vẫn không có gì, mọi thứ đều biến mất trong nháy
mắt.
Nàng vừa khiếp sợ vừa ngượng ngùng, đứng dậy về buồng khóc
nức nở. Chàng vẫn theo nàng.
Nàng hỏi:
- Quỷ nó theo gót ta, hay là người giải thoát cho ta ngày trước
đã đến chăng?
Chàng tát nàng bảo:
- Người giải thoát người đến chăng? Người ấy ở ngay bên cạnh
ngươi đây, đồ phản bội! Nỡ nào ngươi lại đối xử với ta như thế?
Sau đó chàng đến phòng lớn bảo:
- Hội hè đã kết thúc, chính vua đã về đây.
Các vua chúa, hoàng thân, cận thần giễu cợt chàng.
Chàng hỏi họ một câu ngắn gọn:
- Bay có ra hay không?
Họ đổ xô đến bắt chàng. Chàng rút gươm hô:
- Tất cả các đầu rụng xuống đất từ đầu ta.
Tức khắc các đầu đều rụng xuống. Chàng trở lại làm chúa tể và
lại lên ngôi Vua Núi Vàng.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Ba người lùn trong rừng
Ngày xưa có một người đàn ông góa vợ và một người đàn bà góa
chồng. Người đàn ông có một con gái, người đàn bà cũng có một con
gái. Hai đứa bé quen nhau thường rủ nhau đi chơi rồi về nhà người
đàn bà góa. Bác ta bảo đứa con gái người đàn ông:
- Này cháu ạ, cháu về bảo bố là bác muốn lấy bố. Như thế, thì
rồi sáng nào cháu cũng được rửa mặt bằng sữa và uống rượu vang,
con bác thì chỉ rửa mặt bằng nước lã và uống nước lã thôi.
Cô gái về nhà kể lại cho bố nghe. Người đàn ông nghĩ bụng:
- Không biết nên làm thế nào đây nhỉ! Lấy vợ thì sướng đấy và
cũng khổ đấy.
Sau cùng, bác phân vân không biết nên quyết định thế nào,
liền tháo một chiếc ủng ra bảo con:
- Con cầm lấy chiếc giầy ủng này. Ở đế có một cái lỗ thủng. Con
đem lên buồng xép trên gác treo lên đinh to rồi đổ nước vào. nếu
giầy giữ được nước thì bố lại cưới vợ, nếu nước chảy thì thôi.
Cô gái làm theo lời bố dặn. Nước làm cho da căng lấy kín chỗ
thủng, giầy đầy nước. Cô đến bảo cho bố biết việc xảy ra. Bố bèn
đích thân đến, thấy đúng thế. Bác liền đến nhà bà góa hỏi làm vợ.
Lễ cưới được tổ chức.
Sáng hôm sau, khi hai cô dậy thì trước mặt cô con riêng người
đàn ông đã có sữa để rửa mặt và rượu vang để uống, còn trước mặt
cô con riêng người đàn bà thì chỉ có nước lã. Sáng ngày thứ hai,
trước mặt cô con riêng của người đàn ông cũng như cô con riêng của
người đàn bà đều có nước lã để rửa mặt và nước lã để uống. Sang
đến ngày thứ ba, trước mặt cô con riêng của người đàn ông có nước
lã để rửa mặt và nước lao để uống. Còn trước mặt cô con gái người
đàn bà có sữa để rửa mặt và rượu vang để uống, và cứ thế tiếp mãi.
Người đàn bà ghét cay ghét đắng con chồng, chỉ tìm cách hành hạ
nó mỗi ngày một thêm khổ sở. Mụ lại đố kỵ vì con chồng thì xinh
đẹp, dễ thương, con gái mụ thì xấu xa ghê tởm.
Một hôm mùa rét, tiết trời băng giá, tuyết phủ đầy núi và
thung lũng, mụ làm một chiếc áo bằng giấy, gọi con chồng lại bảo:
- Mày mặc chiếc áo này mà vào rừng hái cho tao một rổ dâu
đầy, tao thèm dâu lắm.
Cô gái đáp:
- Trơi ơi, mùa đông làm gì có dâu! Đất giá lạnh, tuyết phủ hết.
Mà sao lại bắt con mặc áo giấy mà đi? Ở ngoài rét, hơi thở giá lạnh.
Gió thổi như cắt da, buốt như gai đâm vào thịt.
Mẹ ghẻ bảo:
- À, mày lại cãi tao à? Muốn sống thì đi ngay có lấy được đầy rổ
dâu thì hãy vác mặt về.
Rồi mụ đưa cho cô một mẩu bánh mì rắn mà bảo:
- Ăn cả ngay đấy nhé!
Mụ nghĩ bụng, con chồng ra ngoài sẽ bị chết vì đói rét, thế là
rảnh mắt mụ mãi mãi.
Cô gái vâng lời, mặc áo giấy vào, mang rổ ra đi. Tuyết phủ
mênh mông. Không nhìn thấy một gốc cây xanh nhỏ. Cô vào rừng
thấy một ngôi nhà nhỏ, có ba người lùn đứng trông ra. Cô khẽ gõ và
cửa chào họ
Họ bảo cô vào. Cô vào buồng, ngồi bên chiếc ghế dài bên lò sưởi.
Cô định sưởi và ăn sáng. Những người lùn bảo:
- Cho bọn tôi xin một tí.
Cô vui lòng chia mẩu bánh mì làm hai, cho họ một nửa. Họ hỏi
cô:
- Trời mùa đông thế này, cô mặc chiếc áo mỏng manh vào rừng
làm gì?
Cô đáp:
- Trời ơi, tôi phải hái cho được một rổ dâu đây, có lấy được thì
mới dám về nhà.
Cô ăn xong bánh, họ đưa cho cô một cái chổi mà bảo:
- Cô cầm ra chỗ cửa sau mà quét sạch tuyết đi.
Khi cô ra ngoài rồi, ba người lùn bảo nhau:
- Cô ấy ngoan và tốt bụng quá, chia bánh cho chúng ta, vậy thì
nên cho cô ấy cái gì nhỉ?
Người thứ nhất nói:
- Tôi ban cho cô ấy sắc đẹp ngày một lộng lẫy hơn.
Người thứ hai nói:
- Tôi ban cho cô ấy điều này: Cứ nói một tiếng thì một đồng tiền
vàng ở miệng rơi ra.
Người thứ ba nói:
- Tôi ban cho cô ấy điều này: Một ông vua sẽ đến lấy cô làm vợ.
Cô bé làm theo lời mấy người lùn. Cô đem chổi ra sau ngôi nhà
nhỏ quét tuyết. Các bạn có biết cô bé thấy gì không? Toàn dâu chín
là dâu chín; dâu hiện ra đỏ thắm trên nền tuyết trắng. Cô mừng rỡ
nhặt đầy rổ. Rồi cô cảm ơn những người lùn, bắt tay chào từng
người rồi chạy về nhà đưa cho dì ghẻ thứ mà bà hạch. Cô bước vào,
vừa mở mồm ra thì một đồng tiền rơi ra ở miệng. Cô liền kể lại việc
xảy ra trong rừng; cứ nói một tiếng là có một đồng tiền vàng rơi ở
miệng ra, chẳng mấy chốc mà phòng đầy tiền vàng.
Cô em con dì ghẻ kêu lên:
- Kìa trông có kẻ làm cao, vứt tiền như rác kìa!
Trong thâm tâm, cô ta ghen ghét, nên cũng muốn vào rừng tìm
dâu.
Mẹ bảo:
- Không được đâu, con gái nhỏ yêu dấu của mẹ ạ! Trời rét lắm.
Con của mẹ đến chết rét mất.
Nhưng cô không để cho mẹ được yên, nên cuối cùng mẹ cũng
phải chịu may cho cô một chiếc áo lộng lẫy để cô mặc, đưa cho cô
bánh mì bơ và bánh ngọt đem theo đi ăn đường.
Cô vào rừng, đến đúng ngôi nhà nhỏ. Ba người lùn cũng đang
đứng trông ra. Nhưng cô không buồn quay lại nhìn họ, cũng chẳng
buồn chào hỏi họ, cứ thế lật đật bước vào phòng, ngồi bên lò sưởi lấy
bánh mì bơ và bánh ngọt ra ăn.
Những người lùn hỏi cô:
- Cho chúng tôi ăn một tí nào.
Cô đáp:
- Mình tôi ăn còn chẳng đủ còn đâu mà chia cho người khác.
Cô ăn xong. Họ bảo:
- Đây có cái chổi, cô cầm lấy ra quét sạch đằng sau nhà.
Cô đáp :
- Úi chà, tôi có là đầy tớ của các người đâu.
Cô thấy họ chẳng định cho cô gì cả liền đi ra cửa.
Những người lùn bàn nhau:
- Con bé này hư, độc ác, đố kỵ, ai có gì cũng ghen, ta cho nó gì
đây?
Người thứ nhất bảo:
- Tôi cho nó điều này: Mỗi ngày một xấu thêm.
Người thứ hai nói:
- Tôi cho nó điều này: Cứ nói mỗi một tiếng là một con cóc nhảy
ở mồm ra.
Người thứ ba nói:
- Tôi muốn nó chết bất đắc kỳ tử.
Cô gái ra ngoài tìm dâu, nhưng chẳng được quả nào, càu nhàu
đi về. Cô vừa mở mồm định kể lại cho mẹ chuyện xảy ra trong rừng
thì nói mỗi tiếng là có một con cóc nhẩy ở miệng ra, khiến mọi
người ghê tởm.
Dì ghẻ càng tức giận hơn nữa, chỉ tìm cách làm cho đứa con
riêng của chồng, đang mỗi ngày một đẹp hơn, đau đớn ê chề.
Mụ lấy một cái nồi bắc lên lửa để luộc sợi. Luộc xong, mụ buộc
sợi lên vai cô gái đáng thương, đưa cho cô một chiếc rìu, bắt cô ra
sông đã đóng băng đào một cái lỗ để chuốt sợi. Cô ngoan ngoãn
vâng lời, đi đào một cái lỗ trong đám băng. Cô đang mải cuốc thì có
một cỗ xe đẹp lộng lẫy chạy đến, trong có vua ngồi. Xe ngừng lại,
vua hỏi:
- Em ơi, em là ai, làm gì ở đây?
- Tâu bệ hạ, em là một cô gái nghèo khổ đang chuốt sợi.
Nhà vua động lòng thương, thấy cô đẹp quá, liền bảo:
- Em có muốn lên xe cùng đi với ta không?
Cô đáp là cô rất vui lòng, vì cô mừng là được đi rảnh mắt mẹ
ghẻ và con gái mụ.
Cô liền lên xe đi với vua. Đến cung điện, lễ cưới được tổ chức
linh đình, theo đúng lời ban của những người lùn.
Hơn một năm sau, bà hoàng hậu trẻ tuổi sinh ra được một đứa
con trai. Mẹ ghẻ được tin ấy cùng với con đi đến cung điện, giả vờ
thăm hỏi. Nhưng vua vừa đi khỏi, không có ai ở đấy, mụ đàn bà độc
ác nắm lấy đầu hoàng hậu, còn con gái hắn nắm lấy chân bà, chúng
vứt bà qua cửa sổ xuống dòng nước chảy cạnh đó. Đứa con gái xấu
xí của mụ nằm vào chỗ bà hoàng hậu ở giường, mụ già trùm khăn
kín đầu nó. Khi vua về định nói với vợ thì mụ kêu lên:
- Bệ hạ hãy gượm đã, bây giờ chưa được đâu. Hoàng hậu đương
ra mồ hôi như tắm, bệ hạ hãy để cho hoàng hậu nghỉ yên ngày hôm
nay.
Vua không ngờ có chuyện ác gì nên mãi sớm hôm sau mới lại
đến. Vua định nói chuyện với vợ. Hoàng hậu giả cứ vừa trả lời thì
cứ mỗi một tiếng là có một con cóc chứ không phải một đồng tiền
vàng ở trong miệng ra. Vua hỏi sao vậy thì mụ già bảo đó là tại mồ
hôi đổ ra nhiều quá, nhưng rồi sẽ hết thôi.
Nhưng đến đêm, gã phụ bếp thấy một con vịt bơi qua đường
cống vào nói:
- Nhà vua làm gì thế?
Không ai trả lời, vịt lại nói:
- Khách khứa của ta làm gì thế?
Gã phụ bếp lên tiếng đáp:
- Họ ngủ say cả.
Vịt lại hỏi:
- Con nhỏ ta làm g´?
Gã đáp:
- Đang ngủ say trong nôi.
Vịt liền hiện nguyên hình thành bà hoàng hậu cho con bú, rũ
chiếc giường nhỏ của nó, đắp chăn cho nó, rồi lại biến thành vịt bơi
qua cống mà đi. Bà đến ba đêm nữa. Đêm thứ ba, bà bảo gã phụ
bếp:
- Ngươi đi tâu vua mang gươm đến vung ba lần trên đầu ta ở
ngưỡng cửa.
Gã phụ bếp chạy đi bảo vua. Vua mang gươm lại vung trên đầu
bóng ma hoàng hậu ba lần. Đến lần thứ ba, vợ vua hiện ra trước
mặt, vui tươi, khỏe mạnh hơn lúc nào hết.
Vua mừng lắm, nhưng giấu hoàng hậu trong một phòng, mãi
đến hôm chủ nhật, đứa bé làm phép rửa tội. Lễ rửa tội xong, vua
bảo:
- Một kẻ khiêng người khác ra khỏi giường, ném xuống nước thì
đáng tội gì?
Mụ già đáp:
- Tốt nhất là bỏ tên côn đồ ấy vào một cái thùng cho lăn từ trên
núi xuống.
Vua phán:
- Ngươi đã tự kết án đó.
Vua sai đi lấy một chiếc thùng, bỏ mẹ con mụ vào đóng lại, thả
từ trên núi cho lăn
Các em đã bao giờ nhìn thấy con cóc chưa? Nếu mỗi lời nói có
một con cóc nhảy ra từ miệng như con bà gì ghẻ trong truyện thì
thật là đáng ghê sợ, đúng không nào? Kẻ độc ác phải trả giá như
vậy đó. Vậy các em hãy luôn ngoan ngoãn để không bao giờ phải bị
trừng phạt như vậy nhé!
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Rau lừa
Xưa có một người thợ săn trẻ tuổi vào rừng rình thú. Lòng anh
phơi phới. Anh vừa đi vừa thổi kèn bằng lá, bỗng gặp một bà lão già
nua, xấu xí. Bà nói:
- Chào anh thợ săn thân mến, anh vui vẻ hớn hở, còn tôi thì
vừa đói vừa khát, anh làm phúc bố thí cho tôi ít nhiều.
Anh thợ săn thương hại bà lão tội nghiệp thò tay vào túi tính
số tiền mình có và cho bà ít nhiều.
Anh nói xong định đi thì bà lão giữ lại bảo:
- Này anh thợ săn thân mến ạ, anh hãy nghe lão nói đây. anh
có lòng tốt, lão muốn thưởng cho anh. Anh cứ đi đi. Đi một lúc, tới
một cây to có chín con chim đậu đang quắp một chiếc áo khoác và
tranh nhau giằng áo. Anh giơ súng lên mà ngắm bắn vào giữa. Thế
nào chúng cũng phải thả chiếc áo xuống. Một con chim bị bắn chết
sẽ rơi xuống. Anh hãy nhặt lấy chiếc áo khoác mang đi. Đó là một
chiếc áo thần. Khoác nó lên vai, muốn đi nơi nào là đến được ngay.
Anh móc lấy quả tim của con chim chết mà nuốt đi thì sáng
nào dậy cũng thấy dưới gối một đồng tiền vàng.
Anh thợ săn cảm ơn bà lão phù phủ và nghĩ bụng:
- Nếu quả như thế thì điều bà ta hứa thật là tuyệt vời.
Anh đi độ trăm thước bỗng nghe trên cành cây có tiếng chim
kêu. Anh ngẩng đầu lên thấy một bầy chim đang mổ nhau, đạp
nhau, tranh nhau một chiếc áo. Chúng kêu loạn xạ, giằng co, cãi
nhau, con nào cũng định giành lấy riêng cho mình. Anh thợ săn nói:
- Hừ, lạ thật! Quả đúng như lời bà cụ bảo.
Anh liền hạ súng trên vai xuống, ngắm bắn vào giữa bầy chim,
lông chim bay lả tả. Đàn chim lập tức kêu ầm ĩ bay đi. Nhưng một
con chết rơi xuống, cả chiếc áo khoác cũng rơi theo. Anh thợ săn
làm như lời bà lão dặn, mổ chim lấy quả tim nuốt ực rồi mang áo
khoác về nhà.
Sáng hôm sau, anh tỉnh dậy chợt nhớ đến lời tiên tri muốn xem
có đúng không. Anh nâng gối lên thì thấy một đồng tiền vàng sáng
nhoáng. Sáng hôm sau nữa anh lại thấy một đồng tiền vàng. Hôm
nào dậy cũng vậy. Anh góp lại được một đống vàng. Sau anh nghĩ:
"Cứ ở nhà ru rú thế này thì tất cả chỗ vàng này chả dùng làm gì cả.
Mình phải đi cho biết đó biết đây mới được".
Anh liền từ biệt bố mẹ, đeo súng và túi đi săn rồi lên đường đi
chu du bốn bể. Một hôm, anh vào một khu rừng rậm, ra khỏi rừng,
anh thấy ở cánh đồng phía trước có một tòa lâu đài đồ sộ. Ở một cửa
sổ có một bà già cùng một thiếu nữ xinh đẹp đang đứng nhìn xuống.
Bà già là một mụ phù thủy. Mụ bảo cô gái:
- Kia có một anh chàng ở rừng đi ra. Gã ta có bảo bối trong
người, ta phải chiếm lấy, con yêu của mẹ ạ. Bảo bối ấy vào tay ta
mới đúng. Trong người gã có một quả tim chim. Nhờ đó, mỗi sáng,
dưới gối gã có một đồng tiền vàng.
Mụ cho cô biết phải làm gì, giở trò gì để lấy. Sau mụ còn dọa cô,
trợn mắt bảo:
- Không nghe lời tao thì chỉ có chết!
Anh thợ săn tới gần nhìn thấy cô gái nghĩ bụng:
- Ta đi giang hồ mãi rồi, cũng muốn nghỉ ngơi một chút. u là
ta ghé vào lâu đài đẹp đẽ này, tiền bạc ta có thừa thãi cơ mà.
Thực tình thì chỉ vì anh ta nhìn thấy cô gái đẹp nên muốn ở lại.
Anh vào nhà được tiếp đãi ân cần, lịch sự. Chẳng bao lâu anh
đã mê con gái mụ phù thủy không còn nghĩ gì khác nữa, chỉ biết
chiều theo ý cô, cô muốn gì là anh vui vẻ làm ngay. Mụ già bảo con:
- Giờ thì ta phải lấy kỳ được quả tim con chim. Nó có mất cũng
chẳng biết đâu.
Hai mẹ con nấu một thức uống, nấu xong mụ rót vào cốc để con
gái đưa cho anh thợ săn. Cô gái nói:
- Anh thân yêu ơi, anh hãy cạn cốc chúc em đi.
Anh cầm cốc uống cạn thì nôn ra quả tim chim. Cô gái lén
mang tim chim đi, rồi phải nuốt tim chim theo ý mẹ. Từ đó, anh
không còn tìm thấy vàng ở dưới gối nữa. Còn vàng ở dưới gối cô gái,
thì sáng nào, mụ già cũng đến lấy đi. Nhưng anh chàng si tình yêu
mê yêu mẩn, lúc nào cũng quấn quít bên cô gái, không còn nghĩ đến
việc gì khác nữa. Mụ phù thủy già lại bảo con:
- Ta đã được quả tim chim, còn phải lấy nốt chiếc áo khoác thần
của nó nữa.
Cô gái gàn đi:
- Thôi ta để cho anh ấy chiếc áo, vì anh ta đã mất hết của cải
rồi còn gì!
Mụ già tức giận bảo:
- Chiếc áo ấy là một bảo bối hiếm có trong thiên hạ. Ta nhất
định lấy cho kỳ được.
Mụ bày mưu cho con, dọa nếu con không chịu làm thì mụ sẽ trị
cho. Cô đành theo lệnh mẹ, đến đứng bên cửa sổ nhìn ra xa làm vẻ
rầu rĩ. Anh thợ săn hỏi:
- Sao em lại đứng thẫn thờ ra đấy.
Cô đáp:
- Chao ôi! Anh yêu quý của em ạ, đàng trước kia có quả núi
Thạch Lưu, là nơi có nhiều ngọc quý. Em thèm ngọc quá, cứ nghĩ
đến lại buồn. Nhưng ai là người đi lấy được. Chỉ có chim mới bay
được đến nơi, con người thì vạn kiếp chẳng đến được.
Anh thợ săn nói:
- Nếu chỉ vì việc ấy mà em than thở thì anh có thể làm cho em
khỏi buồn phiền ngay lập tức.
Nói xong, anh kêu cô vào trong áo khoác, niệm chú ước được
đến ngay núi Thạch Lưu. Chớp mắt, cả hai người đã ngồi trên núi,
khắp bốn bên, ngọc óng ánh, trông thật sướng mắt. Họ nhặt lấy
những viên đẹp nhất, quý nhất. Mụ già hóa phép cho mắt anh thợ
săn díp lại. Anh bảo cô gái:
- Ta hãy ngồi nghỉ một lúc đi, anh mệt quá, đứng không vững
nữa đâu.
Hai người ngồi xuống. Anh gối đầu vào lòng cô mà ngủ.
Anh ngủ rồi thì cô tháo áo khoác ở vai anh ra, khoác vào người
nhặt châu ngọc rồi hóa phép về nhà.
Anh thợ săn ngủ no mắt, tỉnh dậy thấy người yêu đã lừa mình,
bỏ rơi mình ở quả núi hoang vu này. Anh nói:
- Than ôi, trong thiên hạ sao lại có thể có việc phản bội đến thế
được!
Anh ngồi thần ra, đau khổ và lo lắng không biết làm thế nào.
Núi này vốn của những tên khổng lồ man rợ hoành hành và sinh
sống ở đó. Anh ngồi mới được một lúc bỗng thấy ba tên đi lại. Anh
lại nằm xuống, làm ra bộ ngủ rất say. Ba tên khổng lồ tới. Tên thứ
nhất đá anh bảo:
- Sao cái con sâu này lại nằm ườn ra đấy mà trầm ngâm thế
này?
Tên thứ hai nói:
- Thì cứ dần cho nó chết quách đi.
Tên thứ ba có vẻ khinh bỉ nói:
- Thật chả bõ. Cứ để nó sống. Nó không ở đây nổi. Nếu leo lên
đỉnh núi nó sẽ bị mây cuốn đi mất.
Nói xong câu chuyện, chúng đi qua. Anh thợ săn đã lắng tai
nghe, nên khi chúng đi rồi, anh đứng phắt dậy, trèo lên đỉnh núi.
Tới nơi, anh ngồi nghỉ một lát thì có một đám mây trôi đến, cuốn
lấy anh mang đi. Mây bay một thời gian trên trời rồi hạ xuống một
cách nhẹ nhàng giữa đám bắp cải và các thức rau khác.
Anh thợ săn nhìn quanh và nói:
- Mình đói quá giá có cái gì ăn thì hay. Khó mà đi được nữa.
Nhưng ở đây, chẳng thấy lê, táo, hay thứ quả nào khác, thì toàn
rau mà thôi.
Sau anh nghĩ:
- Thôi bí lắm thì ta ăn rau sống vậy, tuy không ngon lành gì
nhưng cũng mát rượi.
Anh liền chọn lấy một cây rau ngon mà ăn. Nhưng anh vừa
nuốt mấy miếng thì thấy là lạ và cảm thấy trong người khác hẳn
anh mọc ra bốn chân, một cái đầu to, hai cái tai dài, anh khiếp sợ vì
thấy mình đã biến thành một con lừa.
Anh vẫn cảm thấy đói lắm, ăn rau sống rất hợp với thể chất
mới của anh, nên anh lại ăn nghiến ngấu. Mãi sau anh mới lần tới
một giống rau khác, anh vừa nuốt một ít thì lại cảm thấy trong
người có sự thay đổi và trở lại thành hình người.
Anh thợ săn nằm xuống ngủ cho hết mệt. Hôm sau tỉnh dậy,
anh hái một cây rau độc và một cây rau lành, nghĩ bụng: "cái này sẽ
giúp mình lấy lại các thứ của mình và trừng phạt sự phản bội".
Anh nhét những cây rau vào trong người trèo qua tường đi tìm
lâu đài người yêu của mình. Anh đi lang thang mấy ngày thì may
quá, tìm được ra nhà. Anh vội bôi mặt mũi đến mẹ đẻ cô gái cũng
không nhận ra được anh. Anh vào lâu đài xin ngủ trọ:
- Tôi mệt lắm không đi được nữa.
Mụ phù thủy hỏi:
- Này, người đồng bào là ai thế? Làm nghề gì vậy?
Anh đáp:
- Tôi là một sứ giả của nhà vua. Tôi được phái đi tìm thứ rau
quí nhất trên đời. Tôi may mắn tìm ra thứ rau ấy, hiện mang theo ở
đây. Nhưng trời nóng như thiêu như đốt, rau tươi của tôi đã héo
hết, không biết tôi có mang đi được nữa không.
Mụ già nghe nói đến rau quý thèm quá bảo:
- Này, người đồng bào yêu quý, cho tôi nếm thử cây rau quý
một chút có được không?
Anh trả lời:
- Được thôi. Tôi mang về hai cây, để tôi cho bà một.
Anh mở bị, đưa cho mụ một cây rau độc. Mụ phù thủy không
nghi ngờ gì cả, nghĩ đến món ăn mới, mụ thèm rỏ dãi, vào bếp làm
ngay. Làm xong, mụ cũng chẳng đợi bưng lên bàn nữa, đút luôn
mấy lá vào mồm. Mụ vừa nuốt xong thì biến thành con lừa cái chạy
ra sân. Đến lượt con hầu vào bếp. Nó nhìn thấy món rau làm xong
để đấy, bèn bưng lên. Đi đường quen nếp cũ, nó thèm nếm quá, bèn
ăn vụng vài lá. Phép lạ ứng liền nó biến thành một con lừa cái nhỏ
chạy đến bên mụ già. Bát rau rơi xuống đất. Trong lúc ấy, sứ giả
ngồi ở ngoài với cô gái đẹp. Cô chờ mãi không có ai mang rau lên,
thèm ăn nói:
- Chả biết rau để ở đâu ấy nhỉ?
Anh thợ săn nghĩ bụng chắc món rau đã có hiệu quả rồi liền
nói:
- Để tôi xuống bếp xem sao.
Anh đi xuống thì thấy có hai con lừa cái nhảy nhót ngoài sân,
còn rau thì đổ ở dưới đất. Anh nói:
- Được lắm. Hai đứa bay đã lấy phần rồi.
Anh nhặt những lá rau còn lại, bỏ vào bát bưng lên cho cô gái
và nói:
- Tôi phải tự tay bưng lên cho cô món ăn ngon để cô không phải
suốt ruột.
Cô ăn một ít thì lập tức cũng như hai người kia, biến thành
một con lừa cái con chạy ra ngoài sân.
Sau khi anh thợ săn đã rửa sạch mặt mũi để cho những người
biến ra lừa nhận được anh, anh ra sân bảo:
- Giờ thì các người hãy đền tội phản bội đi nhé!
Anh lấy dây buộc cả ba con lừa lại, đánh đi đến một nhà xay
lúa. Anh gõ cửa sổ, người thợ xay thò đầu ra hỏi anh muốn gì. Anh
nói:
- Tôi có ba con vật tai quái mà không muốn nuôi nữa. Nếu bác
chịu nuôi hộ tôi, cho ở, cho ăn thì hết bao nhiêu tiền tôi cũng xin
chịu.
Bác thợ xay nói:
- Được thôi. Nhưng phải nuôi thế nào?
Anh thợ săn dặn bác, đối với con lừa già, tức là mụ phù thủy,
thì cứ mỗi ngày đánh ba lần, cho ăn một lần. Đối với con trẻ là con
hầu thì đánh một lần, cho ăn ba lần. Còn đối với con trẻ nhất là cô
gái thì không đánh lần nào mà cho ăn ba lần. Anh không nhẫn tâm
để cô ta bị đánh. Sau đó, anh trở về lâu đài ở, cần gì có nấy không
thiếu gì cả.
Mấy hôm sau bác thợ xay bảo là con lừa già bị đánh nhiều mà
chỉ được ăn một lần một ngày nên đã chết rồi.
Bác lại bảo: "Hai con kia chưa chết, mỗi ngày được ăn ba lần,
nhưng chúng buồn quá, sợ cũng không sống được bao lâu".
Anh thợ săn động lòng thương, cũng nguôi giận nên bảo bác
thợ xay đưa chúng lại. Hai con đến thì anh cho ăn một ít rau lành,
chúng hiện nguyên hình thành người. Cô gái đẹp quỳ xuống thưa:
- Anh ơi, anh tha cho em tội đã làm cho anh phải điêu đứng.
Mẹ em bắt em làm thế. Em miễn cưỡng mà làm, thực tình em yêu
anh tha thiết. Áo thần của anh treo ở trong một cái tủ, còn tim
chim thì để em xin uống thuốc cho nôn ra. Anh đổi ý bảo:
Thôi em cứ giữ lấy. Anh cũng chả thiết nữa vì anh đã lấy em,
em sẽ là người vợ trung thành của anh.
Lễ cưới được tổ chức. Hai vợ chồng ăn ở với nhau sung sướng
cho đến chết.
Câu truyện thật là hay, đúng không nào? Con người mà bị biến
ra thành con lừa thì thật là sợ các em nhỉ! Những người xấu xa và
độc ác thì sẽ bị trừng phạt như vậy đấy!
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Ong chúa
Ngày xửa ngày xưa, có hai Hoàng tử đi phiêu lưu, sống lang
bạt không về nhà nữa.
Người em út, thường gọi là "Chú Ngốc", lên đường đi tìm hai
anh. Tìm mãi gặp hai anh thì chàng ta lại bị hai anh giễu cợt: khôn
ngoan như chúng tao mà còn chẳng đi đến đâu, huống hồ là cái thứ
mày ngốc nghếch thế mà cũng đòi đua chen với đời.
Ba anh em cùng đi thì gặp một tổ kiến. Hai anh muốn phá đi
xem trong khi hoang mang kiến bò đi lung tung ra sao và tha trứng
đi như thế nào. Nhưng chú Ngốc nói:
- Xin các anh để chúng yên thân, em không để các anh quấy
nhiễu chúng đâu.
Ba anh em lại đến một cái hồ đầy vịt đang bơi. Hai anh muốn
bắt một đôi làm thịt ăn, nhưng chú Ngốc không chịu:
- Xin các anh để chúng yên thân, em không để các anh quấy
giết chúng đâu.
Ba anh em lại đến một tổ ong đầy mật chảy rào cả ra ngoài
thân cây. Hai anh muốn đốt lửa ở gốc cây hun cho ong chết để lấy
mật, nhưng chú Ngốc ngăn lại, nói:
- Xin các anh để chúng yên thân, em không để các anh hun
chúng đâu.
Ba anh em đi mãi đến một lâu đài vắng tanh, chỉ có ngựa bằng
đá ở trong chuồng chứ không thấy một bóng người nào. Họ dạo qua
tất cả các phòng, đến trước một cái cửa đóng có ba khóa. Giữa cửa
có đục một cửa sổ nhỏ, qua đó có thể dòm vào trong buồng được. Họ
trông thấy một người bé nhỏ, tóc hoa râm, ngồi trước một cái bàn.
Họ gọi một lần, hai lần, nhưng người ấy không thưa. Họ gọi đến lần
thứ ba thì người ấy đứng dậy mở cửa đi ra.
Người ấy chẳng nói chẳng rằng, dẫn họ đến trước một cái bàn
bày la liệt thức ăn.
Khi họ đã ăn uống xong rồi, người ấy dẫn mỗi ông hoàng vào
một buồng ngủ riêng.
Sáng hôm sau, người ấy vào buồng người anh cả, dẫn anh ta
đến một cái bảng đá trên có ghi ba việc phải làm để giải thoát cho
lâu đài bị phù phép.
Việc thứ nhất là vào rừng, tìm ở dưới đám rêu một nghìn viên
ngọc của công chúa. Nếu trước khi mặt trời lặn mà không tìm được
đủ số ngọc thì người đi tìm sẽ biến thành đá.
Người anh cả đi tìm nhưng tìm một ngày chỉ được có một trăm
viên ngọc. Thế là anh ta hóa đá.
Hôm sau đến lượt người anh thứ hai đi tìm ngọc. Anh ta cũng
không hơn gì anh cả mấy, chỉ tìm được có hơn hai trăm viên ngọc và
cũng hóa đá.
Sau cùng đến lượt chú Ngốc đi mò ngọc dưới rêu. Tìm ngọc đâu
phải là dễ, công việc chậm chạp lắm. Chú ngồi khóc trên một tảng
đá. Bỗng Chúa kiến mà chú đã cứu thoát trước kia cùng với năm
nghìn kiến quân, đến giúp chú, tìm đủ số ngọc trong chốc lát và xếp
thành đống.
Việc thứ hai là mò ở đáy bể lên cái chìa khóa buồng ngủ của
công chúa.
Chú Ngốc vừa đến bờ bể thì tức khắc đàn vịt mà chú đã cứu bơi
lại gần chú, lặn xuống nước và mò chìa khóa lên.
Việc thứ ba khó nhất: phải tìm ra trong ba công chúa đang ngủ
cô nào ít tuổi nhất và đáng yêu nhất. Ba nàng công chúa đều giống
nhau như đúc, chỉ khác nhau ở chỗ, trước khi ngủ ba nàng ăn thức
ngọt khác nhau: cô nhớn ăn một thìa đường, cô thứ hai uống một
hớp nước đường, cô thứ ba uống một thìa mật ong.
Ong Chúa mà chú Ngốc đã cứu thoát khỏi ngọn lửa đến giúp
chú: ong bay đi ngửi mồm ba nàng công chúa, rồi đậu lên môi công
chúa đã ăn mật ong để ông hoàng Ngốc nhận ra.
Tức thì tòa lâu đài thoát khỏi giấc ngủ triền miên và những
người đã hóa ra đá lại trở thành người.
Chú Ngốc cưới nàng công chúa ít tuổi nhất và đáng yêu nhất,
rồi được nối ngôi vua. Còn hai anh chú Ngốc được lấy hai nàng công
chúa kia.
Qua câu chuyện các em có thấy người em út thường gọi là "Chú
Ngốc" có đáng yêu không? Với lòng yêu thương các con vật "Chú
Ngốc" đã được chúng giúp đỡ trong lúc qặp khó khăn. Như vậy,
"Chú Ngốc" có phải là người thật sự ngốc nghếch không?
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Bảy con quạ
Ngày xưa, có một người sinh được bảy con trai, nhưng không có
con gái, cầu mãi cũng chẳng được. Mãi về sau, vợ có mang, bác ta
chứa chan hy vọng; quả nhiên đứa con ra đời là con gái. Hai vợ
chồng mừng lắm, nhưng đứa con gái lại bé quá. Vì thấy con yếu ớt,
bố mẹ định làm phép rửa tội gấp cho con.
Bố vội sai đứa con trai chạy ra suối lấy nước. Sáu đứa kia cũng
đi theo. Bảy đứa tranh nhau múc nước, cái bình lăn xuống nước.
Chúng không biết làm thế nào, không đứa nào dám về nhà. Thấy
con mãi không về, bố sột ruột, nói:
- Mấy thằng ranh lại mải chơi quên múc nước rồi.
Bố sợ con gái nhỡ chết không được chịu phép rửa tội, phát cáu,
rủa con:
- Ước gì cả bảy thằng hóa ra quạ tất.
Vừa nói buông lời thì nghe thấy tiếng vỗ cánh trên đầu và bảy
con quạ đen như than bay liệng.
Bố đã trót rủa rồi, hối lại không kịp nữa. Hai vợ chồng buồn vì
mất bảy đứa con trai, nhưng được an ủi vì thấy đứa con gái quí mỗi
ngày một khỏe lên và đẹp ra. Mãi sau cô nghe thấy láng giềng xì
xào rằng cô đẹp thật, nhưng vì cô mà bảy anh cô phải khổ, thì cô
mới biết rằng cô có anh. Cô buồn rầu, hỏi bố mẹ xem là mình có anh
không và các anh nay ra sao. Bố mẹ không thể giấu con được nữa,
nói tránh ra rằng đó là lòng trời, và cô sinh ra chẳng có tội gì.
Nhưng cô em hàng ngày vẫn bị lương tâm cắn rứt và quyết tâm
giải thoát cho các anh khỏi bị phù phép. Cô bứt rứt lắm, trốn nhà ra
đi khắp nơi mong tìm ra tung tích các anh để giải thoát các anh
bằng mọi cách. Cô chỉ mang theo một chiếc nhẫn nhỏ là vật kỷ niệm
của bố mẹ, một cái bánh mì để ăn, một bình nước nhỏ để uống và
một chiếc ghế con để ngồi cho đỡ mỏi.
Cô đi mãi đi mãi, đi đến tận cùng thế giới. Cô đi tới mặt trời,
nhưng mặt trời nóng quá. Cô vội rời mặt trời và chạy đến mặt
trăng, nhưng mặt trăng lạnh lẽo quá. Cô vội quay gót, đi tới các vì
sao. Các vì sao tiếp cô niềm nở, vì sao nào cũng ngồi trên một cái
ghế con. Sao Mai đứng dậy, cho cô một cái xương nhỏ và bảo cô:
- Không có cái xương nhỏ này thì con không thể mở được núi
thủy tinh là chỗ ở của các anh con.
Cô bé cầm lấy cái xương, lấy khăn bọc cẩn thận, rồi đi mãi, đến
núi thủy tinh. Cửa núi đóng. Cô cởi khăn tay ra để lấy cái xương,
nhưng không thấy nữa. Thế là cô đã đánh mất món quà của vì sao
tốt bụng. Làm thế nào bây giờ? Cô muốn cứu các anh mà chìa khóa
núi lại mất rồi. Cô bèn rút dao ra, cắt mẩu ngón tay đút vào lỗ
khóa. Cô bước vào, thấy một người lùn đi ra, hỏi:
- Con đến tìm gì ở đây?
- Con tìm các anh con là bảy con quạ.
- Bây giờ các ông quạ đi vắng, nhưng nếu con muốn chờ các ông
về thì con vào đây.
Người lùn sắp bữa ăn tối cho bảy ông quạ vào bảy cái đĩa nhỏ
và bảy cái cốc nhỏ. Cô bé ăn ở mỗi đĩa một miếng và uống ở mỗi cốc
một hớp. Cô thả cái nhẫn mang theo vào cốc cuối cùng.
Chợt cô nghe thấy trên không có tiềng vỗ cánh. Người lùn liền
nói:
- Các ông quạ đã về đó.
Các ông quạ về thật. Mỗi ông đi tìm cốc đĩa của mình để ăn
uống.
Hết ông nọ đến ông kia hỏi:
- Ai đã ăn ở đĩa của tôi? Ai đã uống cốc của tôi? Nhất định có
người đụng đến cốc này.
Khi con quạ thứ bảy uống hết cốc, thì nó thấy cái nhẫn. Nó
nhìn chằm chằm và nhận ra cái nhẫn của bố mẹ, bèn nói:
- Cầu Chúa cho em chúng ta ở đây thì chúng ta được giải thoát.
Quạ vừa nói xong, cô bé đang đứng nghe sau cửa liền bước vào.
Tức thì đàn quạ hóa ra người. Anh em ôm chặt lấy nhau hôn nhau
mãi, rồi vui vẻ cùng nhau lên đường về nhà.
Cô gái trong câu chuyện thật là dũng cảm, tốt bụng. Bằng tình
yêu và lòng quyết tâm cô đã giải thoát được cho các anh của mình.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét