Nước trường sinh
Xưa có một ông vua ốm thập tử nhất sinh, ai cũng cho là không
thể sống được nữa. Ba con trai thấy vậy, buồn lắm.
Một hôm, ba người đang đứng trong vườn khóc, thì thấy một
ông cụ hiện đến hỏi vì sao mà buồn. Ba người thưa với cụ rằng vua
cha ốm nặng thuốc nào cũng không chữa khỏi, thế nào cũng chết.
Cụ hỏi:
Lão biết một thứ nước trường sinh. Nếu nhà vua được nước ấy
mà uống thì sẽ khỏi. Nhưng thứ nước ấy khó tìm lắm.
Người con cả nói:
- Nhất định tôi đi tìm cho bằng được.
Hoàng tử bèn đến xin phép vua đi tìm nước trường sinh, vì chỉ
có nước ấy mới chữa được vua khỏi. Vua phán:
- Ta thà chết còn hơn để con phải nguy hiểm!
Nhưng Hoàng tử nằn nì mãi, vua cha cũng phải chấp thuận.
Chàng nghĩ bụng: "Nếu ta lấy được nước này về, cha ta sẽ yêu ta
nhất và sẽ nhường ngôi cho ta".
Thế là chàng lên đường. Chàng ruổi ngựa đi mãi và gặp một
người lùn. Người đó hỏi chàng đi đâu mà vội thế.
Chàng xẵng giọng đáp:
- Đồ lùn ngu xuẩn không việc gì đến mày!
Rồi chàng lại đi.
Ngươi lùn tức giận, phù phép hại chàng. Chàng đi vào khe núi
rất hẹp, càng tiến sâu núi càng xiết chặt, không đi được nữa. Quay
ngựa cũng không được, xuống yên cũng không xong, chàng đành
ngồi nguyên chỗ. Ở nhà, vua cha mong đợi mãi mà không thấy con
trở về.
Hoàng tử thứ hai lại tâu vua:
- Thưa cha, cha để con đi tìm nước trường sinh.
Chàng nghĩ bụng anh chết rồi thì bây giờ ngôi báu sẽ về mình.
Trước vua không cho, nhưng sau cũng đành phải chiều ý con.
Chàng cũng đi theo con đường của anh và cũng gặp người lùn.
Người ấy cũng giữ chàng lại và hỏi chàng đi đâu mà vội vã thế?
Chàng đáp:
- Đồ lùn oát con, không việc gì đến mày!
Rồi chàng đi thẳng, không ngoảnh cổ lại.
Người lùn cũng lại phù phép hại chàng. Cũng như anh, chàng
lại đi vào khe núi, không tiến thoái được nữa.
Đó là hình phạt đối với kẻ kiêu ngạo.
Thấy hai anh không về, Hoàng tử thứ ba cũng lại xin phép vua
cha đi tìm nước trường sinh. Cuối cùng, vua cha đành để cho đi.
Chàng cũng gặp người lùn và khi người ấy hỏi chàng đi đâu mà vội
vã thế, thì chàng dừng ngựa lại, ôn tồn đáp:
- Cha tôi hấp hối, tôi đi tìm nước trường sinh.
Người lùn hỏi:
- Chàng có biết ở đâu không?
- Thưa không ạ.
- Vì chàng cư xử lễ độ, không kiêu căng như hai anh chàng nên
ta mách chàng tìm nước trường sinh. Trong sân một tòa lâu đài bị
phù phép, có một cái giếng phun nước trường sinh. Ta sẽ cho chàng
một que sắt và hai cái bánh để giúp chàng vào. Chàng lấy que sắt
đập ba cái vào cửa sắt thì cửa sẽ mở tung ra. Ở trong có hai con sư
tử há mồm đứng rình. Chàng vứt cho mỗi con một cái bánh thì nó
yên. Rồi mau mau đi lấy nước trường sinh trước khi chuông đánh
mười hai tiếng, vì nếu không thì cửa sập lại, chàng sẽ bị giam ở
trong.
Hoàng tử cám ơn người lùn, lĩnh que và bánh rồi lên đường.
Chàng đến nơi và thấy mọi việc xảy ra đúng như lời người lùn đã
bảo. Chàng lấy que sắt đập ba cái thì cửa mở tung và sau khi ném
bánh cho sư tử ăn, chàng vào lâu đài. Chàng vào một phòng lớn
trang hoàng rực rỡ, có những vị hoàng tử bị phù phép đang ngồi.
Chàng tháo nhẫn đeo ở ngón tay các vị ấy và lấy một chiếc bánh và
một thanh kiếm ở đó.
Trong một phòng khác, chàng gặp một nàng công chúa đẹp
tuyệt vời. Khi trông thấy chàng, nàng mừng rỡ hôn chàng và bảo
chàng biết rằng chàng đã giải thoát cho nàng khỏi phù phép.
Nàng hẹn chàng một năm nữa sẽ đến gặp nàng, bấy giờ sẽ làm
lễ cưới, và nàng sẽ dâng ngôi cho chàng.
Nàng trỏ cho chàng chỗ có nước trường sinh và khuyên chàng
lấy cho mau trước khi nghe thấy chuông đánh mười hai tiếng.
Chàng đi nữa thì đến một phòng có một chiếc giường rất đẹp, mới
trải khăn. Chàng đã mệt nhoài, nên muốn nghỉ một lúc. Chàng
nằm xuống rồi ngủ mất. Chàng tỉnh dậy thì đồng hồ đánh mười một
giờ ba khắc. Chàng vùng dậy, chạy đến giếng. Ở đó có một cái bình,
chàng lấy cốc múc nước rồi vội vã ra về. Khi chàng đến cửa thì nghe
thấy mười hai tiếng chuông, rồi cửa sập mạnh đến nỗi chàng mất
một miếng gót chân.
Nhưng chàng đã lấy được nước thần rồi nên mừng lắm lên
đường về. Chàng lại qua chỗ người lùn.
Thấy chàng mang thanh kiếm và chiếc bánh, người ấy nói:
Chàng đã lấy được những bảo bối rất quí: kiếm có thể phá tan
nhiều đạo quân, còn bánh thì ăn không bao giờ hết.
Nhưng Hoàng tử muốn các anh cùng về để trông thấy mặt cha,
bèn nói:
- Bác lùn thân mến ơi, bác có biết bây giờ hai anh tôi ở đâu
không? Hai anh tôi đi tìm nước trường sinh trước tôi mà chưa thấy
về.
Người lùn nói:
Ấy chỉ vì họ kiêu ngạo nên ta phù phép khiến họ bị kẹp giữa
hai quả núi đấy.
Hoàng tử van lạy mãi, người ấy mới chịu tha cho hai anh,
nhưng người ấy dặn chàng:
- Chàng phải đề phòng cẩn thận, họ xấu bụng lắm đấy.
Chàng gặp hai anh, vui mừng khôn xiết, kể cho hai anh biết
chuyện mình tìm thấy nước trường sinh, lấy được một cốc đầy, giải
thoát cho một nàng công chúa xinh đẹp; nàng sẽ đợi chàng một năm
để cưới và dâng chàng ngôi báu.
Ba anh em cùng đi, đường về qua một nước đang bị cảnh chiến
tranh đói kém. Vua nước đó cho là nhân dân cùng khổ thế thì phen
này đến mất hết cơ đồ sự nghiệp.
Hoàng tử đến yết kiến ông vua ấy, cho mượn chiếc bánh để
toàn dân ăn no, thanh kiếm để dẹp tan quân giăc, nhân dân yên
hưởng thái bình. Sau đó Hoàng tử lấy lại chiếc bánh và thanh kiếm,
rồi ba anh em lại lên đường.
Ba anh em đi qua hai nước nữa cũng bị cảnh chiến tranh và
nạn đói. Hoàng tử cho vua các nước ấy mượn và chiếc bánh thanh
kiếm, thế là cứu được ba nước.
Sau đó, ba anh em lên thuyền vượt biển về nước.
Trong khi đi, hai ngươi anh bàn nhau: "Thằng út nó lấy được
nước trường sinh về chứ không phải bọn ta. Cha sẽ cho nó nối ngôi,
còn chúng mình thì mất phần".
Hai tên sinh lòng đố kỵ bàn mưu hãm hại em. Chúng chờ cho
em ngủ thật say, rót nước trường sinh ở bình của em ra, đổ nước bể
thay vào.
Tới nhà, Hoàng tử út vội lấy bình nước dâng cha uống cho khỏi
bệnh. Vua vừa uống vài ngụm nước bể mặn chát thì bệnh lại tăng
lên. Vua đang rền rĩ, thì hai con lớn đến tố cáo vu cho em mưu đầu
độc cha. Chúng nói là chúng đã lấy được nước trường sinh thật
mang về đưa cha. Cha vừa uống nước đó thì thấy khỏi bệnh ngay và
lại khỏe như thời còn trẻ.
Hai anh chế nhạo em:
- Chính mày đi lấy nước trường sinh về. Mày có công, còn
chúng tao được hưởng. Lẽ ra mày phải khôn ngoan tỉnh táo hơn:
khi qua bể, mày ngủ say, chúng tao lấy trộm của mày đấy. Sang
năm, một trong chúng tao sẽ đến tìm công chúa đẹp kia. Nhưng
mày khôn hồn thì đừng có nói lộ ra; cha chẳng tin mày đâu. Nếu
mày hở ra một câu thì mày sẽ toi mạng. Muốn sống thì phải câm
mồm.
Vua ngỡ là chính con út hại mình, nên tức giận, họp triều định
quyết định xử bắn con một cách bí mật.
Một thị vệ được phái đi săn cùng hoàng tử. Hoàng tử không
nghi ngờ gì cả. Khi chỉ còn hai người trong rừng, Hoàng tử thấy y có
vẻ buồn rầu, bèn hỏi
- Sao ngươi có vẻ buồn thế?
- Kẻ bầy tôi không thể nói được.
- Ngươi cứ việc nói, ta lượng thứ cho.
- Trời ơi, hoàng thượng truyền cho kẻ hạ thần bắn Hoàng tử
đấy.
Hoàng tử sợ hãi nói:
- Ngươi hãy để ta sống. Ngươi hãy mặc áo bào của ta để ta mặc
áo của ngươi.
- Vâng, vâng, kẻ hạ thần không nỡ bắn hoàng tử.
Hai người đổi áo cho nhau. Người thị vệ về nhà, còn Hoàng tử
trốn vào rừng.
Một thời gian sau, có ba xe tải nặng vàng ngọc đến cung vua tạ
ơn hoàng tử thứ ba đã giúp ba ông vua thanh kiếm để dẹp giặc và
chiếc bánh để cứu nhân dân khỏi chết đói.
Vua cha nghĩ: "Có lẽ con ta không có tội tình gì", rồi bảo quần
thần:
- Ước gì con ta còn sống! Ta tiếc rằng đã sai giết nó.
Người thị vệ thưa:
- Tâu hoàng thượng, Hoàng tử còn sống. Kẻ hạ thần đã không
đang tâm giết hoàng tử.
Rồi y kể đầu đuôi câu chuyện cho vua nghe.
Lòng vua nhẹ hẳn đi. Ngài cho loan báo khắp các nước cho
phép con về và hứa sẽ tha tội cho.
Trong khi đó công chúa đã sai làm trước cung điện của nàng
một con đường lát vàng sáng nhoáng. Nàng dặn quần thần rằng ai
cưỡi ngựa đi thẳng vào con đường ở giữa thì đúng là chồng thật, cứ
để người ấy vào. Còn người nào đi bên cạnh mà vào thì không phải
là người chồng thật, đừng cho vào.
Thời gian một năm sắp qua, Hoàng tử anh cả vội vã lên đường
để đến nhận là mình đã cứu công chúa, hòng lấy công chúa và lên
ngôi vua. Y ruổi ngựa đi. Tới trước cung điện, y thấy con đường lát
vàng đẹp đẽ, nghĩ thầm: "Giẫm lên đó thì tiếc quá". Y bèn tránh cho
ngựa đi sang mé bên phải. Nhưng khi y đến cổng thì quân hầu bảo
y không phải là người chồng mà công chúa chờ đợi, và không cho
vào.
Liền ngay đó, Hoàng tử thứ hai đến. Ngựa vừa đặt chân lên con
đường vàng thì y nghĩ là không nên làm hỏng con đường đẹp thế. Y
cho ngựa đi sang bên trái. Khi y đến cổng, quân hầu bảo y không
phải là người chồng mà công chúa chờ đợi, xin mời quay về ngay.
Thời gian một năm qua, Hoàng tử thứ ba ra khỏi rừng để đi
tìm người yêu, mong tìm nguồn an ủi bên nàng. Chàng ra đi chỉ
nghĩ đến nàng, tới gần cung điện mà cũng không để ý đến con
đường lát vàng. Vì vậy chàng cho ngựa đi ngay giữa đường; tới cổng
thì cửa mở toang.
Công chúa mừng rỡ đón chàng, nhận chàng là ân nhân và là
chủ đất nước.
Lễ cưới linh đình. Sau đó, nàng báo cho chàng biết là vua cha
đang gọi chàng về tha tội cho chàng. Chàng về cung, tâu để vua biết
là hai anh đã lừa chàng thế nào mà tuy vậy, chàng vẫn giữ kín
chuyện.
Vua cha muốn làm tội hai người anh, nhưng họ đã xuống tàu
vượt bể, không bao giờ về nữa.
Qua câu chuyện các em thấy chàng Hoàng tử út thật dũng cảm
và tốt bụng. Với lòng dũng cảm, lễ độ và tốt bụng chàng đã cứu
được vua cha khỏi bệnh và lấy được công chúa. Các anh trai có tính
kiêu căng và tham lam nên bị trừng phạt như thế đó!
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Chim ưng thần
Ngày xưa có một ông vua trị vì vào thời nào, tên là gì, tôi không
nhớ rõ nữa. Vua không có con trai, chỉ có độc một cô con gái, luôn
luôn đau ốm, không thầy thuốc nào chữa khỏi được. Vua được nghe
lời tiên tri là công chúa ăn táo có thể khỏi được. Vua liền cho báo
trong khắp nước là kẻ nào dâng công chúa táo ăn và khỏi bệnh thì
sẽ được lấy nàng và lên ngôi vua.
Một bác nông dân có ba con trai cũng được tin ấy. Bác liền bảo
người con đầu:
- Con hãy lên buồng kho, lấy một giỏ đầy táo ngon đỏ ối mà
mang đến triều đình. Có thể công chúa ăn táo và khỏi bệnh, con
được lấy nàng rồi lên ngôi vua.
Chàng trai làm như vậy và lên đường ra đi.
Chàng đi được vài giờ thì gặp một người nhỏ bé, tóc hoa râm,
hỏi chàng mang gì trong giỏ. Chàng Unrich – tên chàng là Unrich -
đáp:
- Tôi mang chân ếch.
Người nhỏ bé liền bảo:
- Ừ được, cứ như thế!
Rồi Unrich lại đi, đi mãi đến cung điện, báo là chàng mang táo
đến, công chúa ăn vào sẽ khỏi bệnh. Vua nghe nói mừng lắm, cho
đòi Unrich vào. Nhưng trời ơi! chàng mở giỏ ra thì chẳng thấy táo
mà chỉ thấy chân ếch hãy còn ngọ ngoậy. Vua nổi giận đuổi chàng
về. Chàng về nhà kể lại cho bố nghe đầu đuôi câu chuyện.
Bố liền sai con thứ hai tên là Damuen đi, nhưng sự việc xảy ra
cũng đúng như với Unrich. Chàng cũng lại gặp một người nhỏ bé,
tóc hoa râm, hỏi chàng mang gì trong giỏ, Damuen đáp:
- Tôi mang lông lợn.
Người nhỏ bé tóc hoa râm đáp:
- Ừ được, cứ như thế!
Chàng đến cung điện, bảo là chàng mang táo đến, công chúa ăn
vào sẽ khỏi bệnh. Người ta không để chàng vào và bảo là đã có một
tên vào đây giễu cợt họ. Damuen kêu nài mãi, quả quyết là mình có
thứ táo ấy, phải để cho chàng vào. Sau cùng người ta cũng tin
chàng, dẫn chàng vào chầu vua. Nhưng khi chàng mở giỏ ra thì chỉ
có lông lợn. Vua tức giận vô cùng, sai đuổi Damuen ra. Chàng về
nhà kể lại cho bố nghe đầu đuôi câu chuyện.
Người con út ở nhà chỉ gọi là thằng Ngốc Hanxơ liền hỏi bố là
mình mang táo đi có được không. Bố bảo:
- Ừ, thứ mày mới thật là đúng nhỉ! Đến mấy đứa tinh khôn còn
chẳng làm nên trò trống gì thì mày làm gì được?
Người con út không chịu nói:
- Ấy bố ơi! Con cũng muốn đi!
Người bố liền bảo:
- Cút đi, mày phải đợi đến lúc nào tinh khôn hơn đã.
Rồi bác quay lưng đi. Nhưng người con kéo áo bố nói:
- Ấy bố ơi! Con cũng muốn đi!
Người bố đáp bằng một giọng cáu kỉnh:
- Ừ, thôi được, mày đi đi, chắc là mày lại trở về mà thôi.
Cậu út mừng quá, nhảy lên. Bố lại bảo:
- Chà, mày như thằng điên, mỗi ngày một ngốc thêm. Hanxơ
cũng chẳng động lòng, vẫn mừng mừng rỡ.
Lúc ấy trời đã tối, chàng nghĩ bụng đợi đến sáng mai, không
đến cung điện ngay hôm nay. Đến đêm chàng nằm trên giường
không ngủ được. Tuy không ngủ được ngay, chàng cũng mơ tới cô
thiếu nưo xinh đẹp, nhưng tòa lâu đài, vàng bạc và nhiều thứ khác
nữa.
Sáng hôm sau, chàng lên đường và gặp ngay người bé nhỏ, lẻo
khoẻo, mặc quần áo xám trắng, hỏi chàng mang gì trong giỏ. Hanxơ
đáp là chàng có táo, công chúa ăn vào sẽ khỏi. Người nhỏ bé liền
đáp:
- Ừ, cứ như thế!
Nhưng ở cung điện người ta nhất định không cho Hanxơ vào vì
đã có hai tên đến xưng là mang táo lại thì một đứa mang chân ếch,
còn một đứa mang lông lợn. Nhưng Hanxơ van xin mãi, nói là quả
thật chàng không mang đến chân ếch, mà mang đến táo ngon nhất
nước. Chàng ăn nói đứng đắn, lính cánh cổng cho là chàng không
nói dối, bèn để cho chàng vào. Mà họ làm vậy là đúng, vì khi chàng
mở giỏ trước mặt vua thì táo vàng hiện ra. Vua mừng rỡ, cho mang
đến công chúa ngay và đợi người đến báo tin kết quả ra sao. Chỉ
một lát sau, có người mang tin lại. Nhưng kìa, ai kia kìa? chính là
công chúa. Nàng vừa ăn táo thì khỏi bệnh liền, nhảy ở giường
xuống. Không ai tả được hết nỗi vui mừng của nhà vua.
Nhưng giờ vua lại không muốn gả công chúa cho Hanxơ. Vua
bảo chàng trước hết phải đóng một chiếc thuyền, đi trên cạn nhanh
hơn cả đi dưới nước. Hanxơ nhận điều kiện ấy, về nhà kể lại sự việc
xảy ra. Bố liền bảo Unrich vào rừng đóng một chiếc thuyền như
vậy. Chàng làm việc rất cần cù, vừa làm vừa huýt sáo. Đến giữa
trưa, trời đứng bóng, có một người bé nhỏ tóc hoa râm đến hỏi
chàng làm gì. Unrich đáp:
- Tôi làm bay thợ nề.
Người bé nhỏ tóc hoa râm bảo:
- Ừ được, cứ như thế!
Đến tối, Unrich tưởng là mình đã đóng xong chiếc thuyền nào
ngờ lúc ngồi vào chỉ toàn bay thợ nề.
Hôm sau Damuen vào rừng. Nhưng sự việc xảy ra cũng y như
đối với Unrich. Đến ngày thứ ba, chàng Ngốc Hanxơ đi vào rừng.
Chàng làm thật chăm chỉ, cả khu rừng vang tiếng đập chan chát,
chàng vừa làm vừa hát và huýt sáo vui vẻ. Đến giữa trưa, lúc trời
nóng bức nhất, người nhỏ bé lại đến hỏi chàng làm gì. Chàng đáp là
chàng đang đóng một chiếc thuyền đi trên cạn nhanh hơn cả đi dưới
nước, làm xong sẽ cưới công chúa làm vợ. Người nhỏ bé bảo:
- Ừ, cứ như thế!
Chiều tối, khi mặt trời lặn, chàng Hanxơ đã làm xong chiếc
thuyền, mái chèo và các bộ phận khác. Chàng ngồi vào thuyền chèo
đến kinh thành. Chiếc thuyền đi nhanh như gió.
Vua thấy chiếc thuyền từ đằng xa, nhưng vẫn không muốn gả
con gái cho Hanxơ. Vua lại bảo chàng phải chăn một trăm con thỏ
từ sớm tinh mơ đến tối mịt, nếu có một con trốn thì không được lấy
công chúa. Chú Hanxơ vui lòng nhận lời và ngay hôm sau, cùng cả
đàn thỏ vào bãi hoang. Chàng chăm chú canh không để con nào
trốn cả.
Một vài giờ trôi qua, một con hầu ở cung điện đến bảo chàng
Hanxơ phải đưa ngay một con thỏ vì có khách. Chàng Hanxơ nhận
ngay ra mưu kế, chàng từ chối không chịu đưa thỏ, bảo là vua có
thể đợi đến mai hãy mời khách món thỏ hồ tiêu. Con hầu không
chịu thôi, quay ra khóc lóc. Chàng Hanxơ liền bảo là nếu công chúa
thân chinh lại, chàng sẽ đưa cho một con thỏ. Con hầu về cung điện
báo, công chúa thân chinh lại.
Trong khi ấy người bé nhỏ lại đến gặp Hanxơ, hỏi chàng đang
làm gì. Chàng đáp là chàng đang phải chăn một trăm con thỏ,
không để con nào trốn mất, làm được sẽ lấy công chúa và làm vua.
Người bé nhỏ bảo:
- Được! Đây có cái còi, có con nào chạy trốn, cứ thổi còi thì nó
lộn lại.
Khi công chúa đến, Hanxơ đặt một con thỏ vào tạp dề của
nàng.
Vua ngạc nhiên khi thấy Hanxơ đã chăn nổi một trăm con thỏ,
không con nào trốn khỏi. Nhưng vua nhất định không chịu gả con
gái cho Hanxơ, bắt chàng phải mang đến dâng vua một cái lông
đuôi chim ưng thần đao.
Chú Hanxơ lên đường rảo bước.
Đến tối, chàng đến một tòa lâu đài. Chàng xin ngủ lại, vì thời
ấy chưa có quán trọ. Ông chủ lâu đài vui vẻ nhận lời và hỏi chàng
đi đâu. Chàng Hanxơ đáp:
- Tôi đến chỗ chim ưng thần.
- À, đến chỗ chim ưng thần à! Người ta kể lại là chim ấy biết
tất cả mọi việc. Tôi mất chiếc chìa khóa hộp tiền bằng sắt. Chàng
làm ơn hỏi hộ cho tôi chìa khóa ở đâu nhé!
Chàng Hanxơ đáp:
- Được, chắc chắn tôi sẽ làm.
Sáng hôm sau, chàng lại lên đường đi tới một tòa lâu đài khác,
chàng ngủ lại ở đấy. Khi người ở lâu đài biết là chàng định đi đến
chỗ chim ưng thần, họ nói là có cô con gái bị bệnh, chữa đủ mọi cách
mà không khỏi, họ nhờ chàng làm ơn hỏi hộ chim ưng xem phải làm
gì để chữa cô khỏi. Chú Hanxơ nhận làm việc ấy rồi lại lên đường
đi.
Chàng đi tới một con sông, không có đò ngang chỉ có một người
to lớn chuyển mọi người qua. Người ấy hỏi Hanxơ đi đâu, chàng
đáp:
- Đến chỗ chim ưng thần.
Hắn dặn:
- Nếu chàng có gặp chim, nhờ hỏi hộ tôi tại sao tôi cứ phải
chuyển tất cả mọi người qua sông.
Chàng Hanxơ đáp:
- Chà được thôi. Tôi nhất định phải làm.
Hắn đặt chàng lên vai đưa chàng qua.
Chàng Hanxơ đi mãi đến nhà chim ưng thần, nhưng nó đi
vắng, chỉ có vợ ở nhà. Vợ chim hỏi chàng muốn gì. Chàng kể lại hết
đầu đuôi: Chàng muốn có một chiếc lông đuôi chim ưng thần; ở lâu
đài nọ, người ta đánh mất chiếc chìa khóa hộp tiền mới, chàng định
hỏi chim ưng thần chìa khóa ở đâu, ở lâu đài khác, có cô gái bị
bệnh, chàng muốn biết cái gì chữa cô khỏi được; gần đó, có con sông
và một người phải đưa người qua, chàng cũng muốn biết tại sao hắn
phải đưa mọi người sang.
Vợ chim ưng thần bảo:
- Này, anh bạn ơi, không ai nói chuyện với chim ưng thần được
đâu. Nó ăn thịt tất cả mọi người. Nhưng nếu anh muốn thì anh cứ
chui vào nằm dưới giường nó. Đến đêm khi nó ngủ say, anh có thể
vươn tay ra mà giật lấy chiếc lông đuôi. Còn những điều anh muốn
biết thì để tôi sẽ hỏi cho.
Chàng Hanxơ đồng ý, chui vào nằm dưới giường. Đến tối, chim
ưng thần về. Nó vào đến buồng thì bảo vợ ngay:
- Mình này, ta ngửi thấy mùi thịt người.
Vợ đáp:
- Đúng đấy. Hôm nay có một người đến, nhưng nó đi rồi.
Rồi vợ chim ưng thần không nói gì nữa.
Giữa đêm, chim ưng thần đang ngáy o o thì chàng Hanxơ đưa
tay ra giật một chiếc lông đuôi. Chim ưng thần giật mình bảo:
- Mình này, ta ngửi thấy mùi thịt người. Mà hình như có kẻ
giật lông đuôi ta.
Vợ chim ưng liền bảo:
- Đúng là mình mê ngủ rồi. Tôi đã bảo mình là hôm nay có một
người đến, nhưng nó đi rồi. Thôi thì hắn kể đủ thứ. Nào là một tòa
lâu đài nọ, người ta đánh mất hộp tiền mới, không tìm thấy nữa.
Chim ưng thần nói:
- Thật là đồ ngu. Chìa khóa ở trong cái nhà kho để củi, dưới
một đống củi sau cửa ấy.
- Hắn lại còn bảo là ở lâu đài khác, có đứa con gái bị bệnh,
không biết cách nào chữa được.
Chim ưng thần nói:
- Thật là ngu. Dưới cầu thang trong hầm có một con cóc lấy tóc
của cô ấy làm tổ. Nếu cô ấy lấy lại được tóc thì khỏi bệnh.
- Rồi hắn lại bảo là ở một nơi có con sông, và một người phải
mang tất cả mọi người qua.
Chim ưng thần nói:
- Chà, thằng ngu! Hắn chỉ việc đặt một người xuống giữa dòng
thì tự khắc không phải mang ai qua nữa.
Sáng sớm, chim ưng thần lại ra đi. Chàng Hanxơ chui ở gầm
giường ra, cầm một chiếc lông đẹp. Chàng lại nghe thấy hết cả mọi
điều chim nói về chiếc chìa khóa, cô con gái và người đàn ông. Vợ
chim ưng thần kể lại tất cả cho chàng nghe lần nữa để chàng khỏi
quên. Sau đó, chàng lên đường về nhà. Trước tiên, chàng đến chỗ
người ở bên sông. Hắn hỏi ngay chàng chim bảo gì. Chàng bảo hắn
mang chàng qua đã rồi sẽ nói. Hắn mang chàng qua sông. Chàng
liền bảo hắn chỉ việc đặt một người xuống giữa dòng, thì tự khắc
không còn phải mang ai qua nữa. Hắn mừng rỡ lắm, bảo Hanxơ
muốn mang chàng qua sông rồi lại mang về để tỏ lòng biết ơn.
Chàng từ chối, bảo là không muốn phiền hắn, chàng đã hài lòng rồi.
Rồi chàng lại đi.
Chàng đi đến lâu đài có cô con gái ốm. Chàng cõng cô trên vai,
vì cô không đi được, và mang cô xuống cầu thang dưới hầm. Chàng
lấy cái tổ cóc ở dưới bậc cuối đặt vào tay cô; cô nhảy từ trên vai
chàng xuống, chạy lên thang trước chàng và khỏi hẳn. Bố mẹ cô
mừng lắm, cho chàng Hanxơ vàng bạc, chàng muốn gì cho nấy.
Đến lâu đài sau, chàng đi ngay vào nhà kho để củi, tìm thấy
dưới đống củi sau cửa đúng ngay chiếc chìa khóa vàng và mang lên
cho chúa lâu đài. Ông ta mừng rỡ vô cùng, thưởng cho Hanxơ nhiều
vàng trong hộp, lại cho thêm đủ thứ, như bò sữa, cừu, dê.
Chàng Hanxơ đến chỗ nhà vua với tất cả những thứ ấy nào là
tiền, là vàng, là bạc, nào là bò, là cừu, là dê. Vua hỏi chàng lấy ở
đâu ra tất cả của cải ấy. Chàng cho biết là chim ưng thần bảo ai
muốn lấy bao nhiêu cũng cho. Vua nghĩ bụng, mình cũng cần đến,
bèn lên đường đi đến chỗ chim ưng thần. Nhưng khi vừa đến bến
sông, thì vua đúng là người đầu tiên đến từ khi Hanxơ đi qua.
Người ấy đặt vua xuống giữa dòng rồi đi mất. Vua bị chết đuối.
Chàng Hanxơ cưới công chúa và lên ngôi vua.
Qua câu chuyện vừa đọc ta thấy: những người thật thà, ngay
thẳng và tốt bụng thì luôn luôn được giúp đỡ, những người xấu xa,
không biết giữ lời hứa thì cho dù đó là đức vua thì cũng bị trừng
phạt.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Bạch Tuyết và Hồng Hoa
Ngày xưa có một người đàn bà góa sống cô quạnh trong một
túp lều gianh. Trước cửa là một cái vườn có hai cây hoa hồng, một
cây ra hoa đỏ, một cây ra hoa trắng. Bà có hai cô con gái, trông đẹp
như hai cây hồng. Vì vậy bà đặt tên hai con là Bạch Tuyết và Hồng
Hoa.
Hai cô bé rất ngoan ngoãn, hay làm, trần gian thực hiếm có.
Bạch Tuyết dịu dàng, thùy mị hơn Hồng Hoa. Hồng Hoa hay chạy
nhảy ngoài đồng, hái hoa, bắt bướm. Còn Bạch Tuyết thì luôn ở nhà
với mẹ, hoặc giúp việc nội trợ, hoặc đọc sách cho mẹ nghe. Hai chị
em yêu nhau lắm, đi đâu cũng dắt tay nhau. Khi Bạch Tuyết nói:
- Chị em chúng ta không rời nhau...
Thì Hồng Hoa nói tiếp:
- ...suốt đời.
Bà mẹ lại nói thêm:
- Hai chị em có gì cũng phải chia nhau nhé.
Hai chị em thường vào rừng hái quả dại. Thú rừng thân mật
đến hai chị em, không đụng chạm đến hai em. Thỏ ăn lá trong lòng
bàn tay hai em. Hoẵng gặm cỏ bên cạnh hai em. Hươu nhảy nhót
gần hai em. Chim trên cành hót vui tai hai em. Hai em không bao
giờ bị nạn. Khi nào nhỡ muộn không về được, thì hai em nằm sát
nhau trên thảm rêu, ngủ lại trong rừng đến sáng, mẹ biết vậy nên
cũng chẳng lo ngại gì.
Bạch Tuyết và Hồng Hoa quét tước nhà cửa sạch sẽ lắm, nhìn
vào thật thích mắt. Mùa hè thì Hồng Hoa làm công việc nội trợ,
sáng nào cũng đặt trước giường mẹ một bó hoa trong đó có một bông
hoa hồng trắng và một bông hoa hồng đỏ hái ở hai cây hồng của
nhà. Mùa đông thì Bạch Tuyết đốt lửa và móc nồi lên bếp lửa. Nồi
bằng đồng đánh sáng nhoáng như vàng. Tối đến, khi tuyết xuống,
thì mẹ lại bảo:
- Bạch Tuyết ơi, con ra cài then cửa lại.
Rồi ba mẹ con ngồi bên lửa. Mẹ đeo kính, lấy quyển sách to ra
đọc. Hai con vừa xe chỉ vừa nghe. Một chú cừu con nằm bên; đằng
sau có một con chim gáy đậu, đầu rúc vào cánh.
Một buổi tối, mẹ con đang quây quần êm ái như thế, thì có
tiếng gõ cửa. Mẹ bảo:
- Hồng Hoa, con chạy mau ra mở cửa, chắc có khách bộ hành
tìm chỗ trú đêm đấy.
Hồng Hoa ra mở cửa, tưởng là thấy một người nghèo khổ.
Nhưng không, một con gấu thò đầu to kệch và đen xì vào. Em hét
lên một tiếng, lùi lại. Đồng thời cừu con kêu be be, chim gáy vỗ
cánh và Bạch Tuyết trốn vào sau giường mẹ.
Gấu nói:
- Đừng sợ, tôi không làm gì đâu, tôi rét cóng, chỉ muốn sưởi nhờ
một tí thôi.
Bà mẹ bảo gấu:
- Tội nghiệp, lại gần lửa mà sưởi, cẩn thận kéo cháy lông nhé.
Rồi bà gọi con:
- Bạch Tuyết, Hồng Hoa lại đây, gấu không làm gì các con đâu,
nó không có ý xấu đâu.
Hai em chạy lại, rồi dần dần cừu con và chim gáy hết sợ cũng
đến.
Gấu nói:
- Các em rũ tuyết ở lưng xuống hộ tôi.
Hai em đi lấy chổi quét lông cho gấu. Gấu nằm gần lửa, kêu gừ
gừ ra vẻ khoái lắm. Chẳng mấy chốc hai em hết sợ, bắt đầu đùa
nghịch với người khách ngờ nghệch.
Hai em giật giật lông gấu, để chân lên lưng gấu, lăn gấu xuống
đất, hoặc lấy cành cây quật gấu; hễ gấu gừ gừ, hai em lại cười
khanh khách.
Gấu cứ để hai em nghịch, nhưng khi hai em nghịch quá thì gấu
bảo:
- Bạch Tuyết, Hồng Hoa để cho anh sống với. Hai em đừng
đánh chết người yêu của hai em nhé.
Khi cả nhà đi ngủ, bà mẹ bảo gấu:
- Gấu cứ nằm bên lửa mà sưởi cho ấm kẻo ở ngoài lạnh giá.
Trời vừa tảng sáng thì hai em mở cửa cho gấu ra, gấu đạp
tuyết vào rừng.
Từ đó, tối nào đúng giờ ấy gấu cũng đến nhà nằm bên bếp lửa
và để cho trẻ tha hồ trêu mình. Cả nhà thân với gấu, chờ cho con
vật lông đen đến rồi mới cài then cửa.
Mùa xuân trở lại, cây cỏ xanh tươi. Một hôm gấu bảo Bạch
Tuyết:
- Bây giờ anh phải đi. Mùa hè này anh không thể đến đây được,
em ạ.
Bạch Tuyết hỏi:
- Anh đi đâu, anh gấu thân yêu?
- Anh phải vào rừng giữ của kẻo những thằng lùn tai ác ăn
trộm mất. Mùa đông, khi đất có băng phủ, thì bọn lùn phải chịu ở
dưới đất, không nhoi lên được; nhưng nay mặt trời sưởi mềm đất,
thì chúng lại nhoi lên tìm cách ăn trộm của anh; cái gì đã vào tay
chúng, chúng cất vào sào huyệt của chúng thì khó lòng mà lấy lại
được.
Bạch Tuyết buồn rầu vì phải từ giã gấu. Lúc em mở then cửa
cho gấu ra, gấu vướng phải móc cửa, hơi trầy da. Em nhìn thấy
hình như có vàng sáng nhoáng dưới da gấu nhưng em không chắc
lắm. Gấu rảo bước rồi khuất bóng sau rừng.
Cách đấy ít lâu, mẹ sai hai con gái vào rừng kiếm củi. Hai em
trông thấy một cái cây to ai đã hạ xuống và có vật gì nhảy nhót hết
chỗ này đến chỗ kia trong đám cỏ gần gốc cây. Hai em lại gần, nhận
ra một thằng lùn, mặt già khọm, bộ râu bạc dài vướng vào keo cây,
nhảy nhót như một chó con bị xích, không sao thoát được. Nó quắc
đôi mắt đỏ ngầu nhìn hai em, thét rằng:
- Sao chúng bay cứ đứng đực đấy ra mà nhìn, không đến cứu
tao?
Hồng Hoa hỏi:
- Bác đã làm gì đến nỗi thế?
Thằng lùn đáp:
- Đồ ngu, mà lại còn thóc mách, tao muốn bổ cây này lấy củi
nhỏ đun bếp. Tao không dùng củi to, củi to làm cháy mất món ăn.
Chúng tao ăn nhỏ nhẻ chứ đâu có ngốn như đồ tham ăn tục uống
chúng mày. Tao đã chêm nêm được rồi, nhưng không ngờ nêm trơn
quá, thình lình tuột ra mất. Gỗ ập lại nhanh như chớp, tao không
kịp rút chòm râu bạc đẹp đẽ ra, nên tao bị giam ở đây. Thế mà
chúng bay còn cười, đồ nhãi còn hơi sữa, đồ ngu ngốc không biết
xấu mặt.
Hai em cố hết sức giúp thằng lùn nhưng không thể gỡ râu nó ra
được.
Hồng Hoa nói:
- Để tôi đi gọi người đến.
Thằng lùn hộc lên:
- Đồ điên! Ai cầu? Có hai chúng mày đã là quá lắm rồi. Chúng
bay không nghĩ ra cách gì khác nữa à?
Bạch Tuyết nói:
- Bác đừng sốt ruột, tôi sẽ có cách cứu bác.
Rồi em lấy kéo nhỏ ở túi ra, cắt ngọn râu thằng lùn.
Được thoát nạn, nó đi lấy một cái bị đầy vàng ở đám rễ cây và
càu nhàu:
- Đồ mất dạy! Chúng bay cắt mất một mẩu râu đẹp của ông.
Quỉ sứ sẽ làm tội chúng mày.
Rồi nó đeo bị vàng lên vai, đi thẳng, không thèm nhìn hai em.
Sau đó ít lâu, Bạch Tuyết và Hồng Hoa đi câu cá ăn. Khi đến
gần bờ suối, hai em trông thấy cái gì như một con châu chấu to
đang muốn nhảy nhót như muốn đâm xuống nước. Hai em chạy lại
thì nhận ra thằng lùn trước.
Hồng Hoa hỏi:
- Bác làm sao đây? Bác muốn nhảy xuống suối à?
Thằng lùn gào lên:
- Tao đâu có ngu thế. Mày mở mắt ra mà trông, con cá khốn
nạn này nó muốn lôi tao xuống sông đấy.
Nguyên thằng lùn đang ngồi câu cá, bỗng không may bị gió
cuốn râu mắc vào dây câu. Một con cá to cắn câu, thằng lùn yếu sức
không lôi nổi con cá lên, con cá khỏe hơn kéo thằng lùn xuống. Nó
bám lấy cỏ lấy sậy, nhưng không ăn thua. Lúc nó sắp bị cá lôi
xuống thì hai em đến kịp, giữ được nó lại. Hai em gỡ cho râu nó,
nhưng không ăn thua, vì râu cuốn chặt vào dây câu. Chỉ còn cách là
lấy kéo cắt một đoạn râu nữa. Thằng lùn thấy thế kêu om lên:
- Đồ ranh con! Chúng bay làm nhơ nhuốc mặt người ta thế à! Ở
đằng kia, chúng bay đã cắt râu tao, bây giờ chúng bay lại cắt đoạn
râu đẹp nhất của tao, làm tao không dám để anh em trông thấy mặt
nữa. Tao cầu cho chúng bay phải chạy cho đến mòn gót giầy.
Rồi nó đi lấy túi ngọc trai để trong đám sậy và không nói thêm
nửa lời, lẩn sau một hòn đá.
Cách đó ít lâu, mẹ sai hai con gái ra tỉnh mua kim chỉ và băng.
Con đường qua một bãi hoang rải rác có những tảng đá to. Hai cô
bé thấy một con chim to liệng trên đầu mình hồi lâu, rồi xà xuống
bên một tảng đá. Tức thì có tiếng kêu oe óe thảm thiết. Hai cô chạy
đến thì sợ quá vì thấy con phượng hoàng đã quặp chặt lấy thằng
lùn mà hai cô đã nhẵn mặt. Chim định tha nó đi. Hai cô bé níu chặt
lấy thằng lùn, co kéo mãi làm cho con chim phải buông mồi ra.
Nhưng khi hết sợ thì thằng lùn lại nhè mồm ra mắng hai em:
- Đồ chúng bay vụng quá, không biết nhẹ tay hơn một chút.
Kéo mạnh quá làm cho chiếc áo mỏng của người ta rách tan tành
như thế này à.
Rồi nó cắp túi ngọc của nó, len lỏi qua đá vào hang. Hai em đã
quen với thói bạc bẽo của nó rồi nên không để ý, lên đường ra tỉnh
mua bán.
Lúc trở về, hai em lại qua bãi hoang, thì bắt gặp thằng lùn
đang đổ những viên ngọc ra một chỗ đất sạch, vì nó không ngờ có
người đi qua đó muộn thế. Dưới ánh nắng chiều hôm, ngọc lóng
lánh muôn sắc. Hai em đứng lại xem.
Thằng lùn mắng:
- Chúng bay đứng đực ra đấy làm gì?
Mặt nó vốn bềnh bệch nay đỏ lên vì tức giận.
Nó toan chửi rủa nữa thì bỗng có tiếng gầm gừ kinh hồn, rồi
một con gấu đen ở rừng đi ra. Thằng lùn hoảng hồn chồm dậy, định
trốn về hang, nhưng không kịp vì gấu đã tới ngay bên.
Nó sợ quá van lạy gấu:
- Lạy ngài, xin ngài tha cho con, con sẽ biếu tất cả châu báu
của con là những viên ngọc đẹp kia. Xin ngài để cho con sống, ngài
ăn thịt kẻ nhỏ bé gầy gò như con thật chẳng bõ dính mồm. Ngài xơi
thịt hai con ranh kia thì hơn: thịt chúng mềm như thịt cun cút vậy.
Nhưng gấu không biết nghe, tát cho thằng quái gian ác một cái
chết tươi.
Hai cô bé chạy trốn, nhưng gấu bảo:
- Bạch Tuyết, Hông Hoa ơi, đừng sợ, chờ anh đi cùng với.
Hai em nhận ra tiếng gấu bèn đứng lại. Khi gấu đến gần hai
em thì bộ lông gấu bỗng rơi xuống, gấu biến thành một chàng
thanh niên đẹp trai mặc áo toàn vàng. Chàng nói:
- Anh là hoàng tử. Thằng lùn kia đã lấy của cải của anh, rồi
phù phép cho anh hóa ra gấu, phải lang thang trong rừng cho đến
khi nó chết mới được giải thoát. Thế là ác giả ác báo.
Bạch Tuyết lấy Hoàng tử và Hồng Hoa lấy em hoàng tử. Rồi
bốn người chia nhau của cải thu thập được ở trong hang thằng lùn.
Bà mẹ già sống lâu, yên vui gần con cái. Bà đem hai cây hồng,
trồng trước cửa sổ. Năm nào, hai cây cũng ra hoa trắng, hoa đỏ rất
đẹp.
Các em đã bao giờ nhìn thấy con Gấu chưa? Qua câu chuyện
các em thấy Gấu cũng thông minh và đáng yêu đấy chứ! Bạch
Tuyết và Hồng Hoa xinh đẹp và nết na rất xứng đáng được hưởng
hạnh phúc.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Đôi giày ủng da trâu
Một người lính đã chẳng sợ gì thì cũng chẳng bận tâm đến việc
gì cả. Xưa có một người lính như vậy bị thải hồi. Bác ta không học
được nghề gì nên không kiếm tiền được, đành đi lang thang ăn xin
thiên hạ. Trên vai bác khoác chiếc áo đi mưa, chân bác đi đôi giầy
ủng kỵ mã bằng da trâu, tất cả của cải chỉ còn lại có thế.
Một hôm, bác cứ đi thẳng cánh đồng, đi miết chẳng để ý gì đến
đường đất, đi mãi đến một khu rừng. Bác không biết mình ở đâu,
chỉ thấy có một người đang ngồi trên một gốc cây đã đẵn. Người ấy
ăn mặc sang trọng, mặc bộ đồ đi săn màu xanh. Bác chìa tay ra bắt,
ngồi xuống cỏ bên người ấy và duỗi chân ra. Bác bảo người đi săn:
- Tôi thấy đôi giầy ủng của ông quả là đẹp, đánh bóng nhoáng.
Nhưng ông phải đi đây đi đó nhiều như tôi thì chẳng được mấy của
nả. Ông cứ xem ủng của tôi bằng da trâu, dòng dã lâu rồi mà chỗ
nào cũng đi qua được đấy.
Một lúc sau, bác lính đứng dậy bảo:
- Tôi không ở lâu hơn được nữa, cái đói nó thúc tôi đi. Này ông
anh có đôi giầy ủng bóng ơi, đường này đi đâu ấy nhỉ?
Người đi săn đáp:
- Chính tôi cũng không biết bác ạ. Tôi lạc trong rừng.
Bác lính nói:
- Thì ra anh cũng như tôi. Những người cùng cảnh ngộ thường
hay kết bạn với nhau. Thôi ta ở sát cánh với nhau, cùng nhau đi
mãi cho đến đêm.
Bác lính lại nói:
- Ta không ra khỏi rừng được, nhưng tôi thấy ở đằng xa có ánh
đèn le lói, có thể tìm cái gì ăn được đấy.
Họ tìm ra một chiếc nhà bằng đá. Gõ cửa thì có một bà già ra
mở.
Bác lính bảo:
- Chúng tôi tìm chỗ ngủ đêm, muốn kiếm chút gì ăn cho đỡ đói,
vì bụng đã lép kẹp như chiếc bị nát.
Bà già đáp:
- Các bác không ở đây được đâu. Đây là nhà bọn cướp, khôn
hồn thì các bác cao chạy xa bay trước khi chúng về, kẻo chúng mà
thấy thì đi đời.
Bác lính đáp:
- Thì cũng đến thế mà thôi. Đã hai hôm nay, chưa được miếng
nào, bị giết ở đây hay chết đói trong rừng thì cũng như nhau. Thôi
tôi cứ vào.
Người đi săn không muốn theo vào nhưng bác lính cứ cầm tay
kéo vào.
- Anh bạn nối khố ơi. Cứ vào đây, chắc đâu đã toi mạng ngay.
Bà già thương hại dặn họ:
- Các bác hãy chui vào sau lò. Nếu bọn chúng ăn còn gì thừa,
thì khi chúng ngủ, ta sẽ tuồn vào cho.
Họ vừa chui vào ngồi một xó, thì có mười hai tên cướp ầm ầm
bước vào. chúng ngồi vào bàn có thức ăn đã dọn sẵn và hạch ăn một
cách bỉ ổi. Bà già bưng một miếng thịt quay kếch xù vào, bọn cướp
ăn rất ngon lành.
Mùi món ăn thơm rức mũi, bác lính bảo người đi săn:
- Tôi không nhịn được nữa đâu, tôi ra ngồi bên cùng ăn đây.
Người đi săn giữ tay bác lính lại:
- Bác làm thế là chết cả nút đấy.
Nhưng người lính bắt đầu ho lớn tiếng. Bọn cướp nghe thấy
quẳng cả dao và đĩa đi, nhảy xổ đến tìm thấy hai người ở sau lò:
Chúng kêu lên:
- Ha ha! Ra hai ngài ngồi ở trong xó này. Các ngài định kiếm
chác gì ở đây? Các ngài được cử đến đây do thám phải không? Được,
đợi đấy, để bọn tớ cho các ngài học bay ở một cành cây khô nhé.
Bác lính nói:
- Ấy, lịch sự một tí nào. Tớ đói lắm, cho tớ ăn đã, rồi sau các
cậu muốn làm gì tớ thì làm.
Bọn cướp ngạc nhiên. Tên đầu sỏ bảo:
- Ồ, tao thấy mày không sợ. Được lắm. Cho mày ăn, nhưng sau
thì mày phải chết đấy!
Bác lính nói:
- Rồi đâu sẽ có đó!
Rồi bác ngồi vào bàn, đưa tay cắt thịt quay một cách gan dạ.
Bác gọi người đi săn:
- Nào ông anh giầy ủng bóng, lại đây chén đi kẻo rồi sẽ đói như
tôi. Ở nhà không có được món thịt quay ngon như ở đây đâu.
Nhưng người đi săn không chịu ăn.
Bọn cướp ngạc nhiên nhìn người lính bảo:
- Tên này thật là không biết làm khách tí nào.
Sau đó bác nói:
- Ăn thì quả là ngon đấy, giờ lấy cho tớ cái gì uống cho ngon.
Tên đầu sỏ, đương lúc cao hứng, cũng đồng ý, gọi bà già:
- Mụ xuống cầm lấy lên đây một chai rượu vào loại ngon nhất.
Bác lính mở nút chai đánh bốp, rồi mang chai lại bảo người đi
săn:
- Này ông anh ơi chú ý nhé, rồi ông anh sẽ còn kinh ngạc nữa.
Giờ đây tôi xin nâng cốc, chúc sức khỏe tất cả mọi người.
Nói rồi, bác vung chai trên đầu bọn cướp mà hét:
- Chúng bay sẽ sống hết, nhưng mồm há hốc ra, tay phải giơ
lên không.
Rồi bác tu một hơi ra trò.
Bác nói chưa dứt lời thì cả bọn cướp ngồi đờ ra như tượng đá,
mồm há hốc, tay phải giơ lên không. Người đi săn bảo bác lính:
- Rõ rồi, đúng là anh còn nhiều thuật lạ. nhưng thôi ta về nhà
đi.
- Ấy ấy. Ông bạn nối khố của tôi ơi, làm gì mà đi sớm quá thế.
Ta đã đánh bại được kẻ thù rồi thì cũng phải vơ vét một chuyến đã
chứ. Bạn chúng ngồi đực ra kia, mồm há hốc vì kinh ngạc. Nhưng
chúng không dám nhúc nhích cho đến khi tôi cho phép. Ta lại đây
đánh chén đi.
Bà già lại phải đi lấy một chai rượu loại ngon nhất nữa. Bác
lính đánh chén đủ no đến ba ngày rồi mới chịu đứng dậy. Mãi đến
lúc trời sáng, bác mới nói:
- Giờ đã đến lúc ta nhổ trại. Bà già phải chỉ đường gần nhất ra
tỉnh để ta đi cho chóng.
Khi hai người ra đến tỉnh, bác lính đi gặp bạn đồng đội cũ bảo:
- Tôi tìm thấy trong rừng một ổ toàn đồ chết treo. Ta hãy đến
quét sạch nó đi!
Bác lính đi đầu, dẫn họ và bảo người đi săn:
- Anh phải trở lại xem khi bọn mình tóm cẳng chúng rồi, chúng
sẽ đú đởn như thế nào.
Bác bố trí cho cả bọn đứng quanh lũ cướp rồi bác cầm chai rượu
uống một hơi, vung chai trên đầu chúng, kêu:
- Tất cả chúng bay phải sống!
Ngay lúc đó, chúng lại cử động, nhưng chúng bị quật xuống,
chân tay bị trói lại. Rồi bác lính bảo ném chúng như ném bị lên một
chiếc xe.
- Hãy chở chúng đến nhà tù ngay đi.
Người đi săn gọi riêng một người trong bọn ra và giao làm một
việc. Bác lính bảo:
- Này ông anh giầy ủng bóng, chúng ta may mắn đã tóm gọn
được bọn cướp và ăn uống thỏa thuê. Giờ ta lại cứ bình tĩnh mà
đóng cái vai trò lính bị tụt hậu, lẽo đẽo theo sau.
Gần đến tỉnh, bác thấy cổng thành người xúm đông chen chúc
nhau, tiếng reo vui mừng, người ta vung vẩy cành lá xanh. Bác lại
thấy cả đội quân cận vệ tiến đến. Bác ngạc nhiên lắm, hỏi người đi
săn:
- Thế là nghĩa lý gì?
Người kia đáp:
- Thế anh không biết là vua đi xa nước đã lâu, ngày hôm nay
trở về, nên thiên hạ đi đón à?
Bác lính hỏi:
- Thế vua đâu mà tôi không thấy:
Người đi săn đáp:
- Vua đây. Ta là vua ta đã cho báo tin trước là ta về.
Người ấy hé mở áo đi săn ra, để lộ áo bào nhà vua. Bác lính sợ
hãi quỳ xuống xin tha tội vì trước đây bác không biết là vua nên đã
đối xử như kẻ ngang hàng và xưng hô như vậy.
Nhưng vua chìa tay ra bắt tay bác bảo:
- Ngươi là một người lính can trường đã cứu sống ta. Ngươi sẽ
không phải chịu cơ cực nữa, ta nhất định chăm sóc ngươi, khi nào
ngươi thèm ăn một bữa thịt quay như ở nhà bọn cướp thì cứ việc
đến bếp hoàng gia. Còn khi nào người muốn nâng cốc chúc ai, thì
phải đợi ta cho phép đã.
Các em được nghe một câu chuyện về cuộc đời. Những người
hiền hậu, tốt bụng sẽ có hạnh phúc, còn những kẻ có tâm địa xấu xa
sẽ bị trừng phạt.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Chim sơn ca
Xưa có một người trước khi đi xa từ biệt ba con gái, hỏi các con
muốn lấy quà gì. Cô cả muốn lấy ngọc, cô thứ hai xin kim cương, cô
út nói:
- Thưa bố, con chỉ thích được một con chim sơn ca vừa nhảy
nhót vừa hót véo von.
Bố bảo:
- Được, nếu có thì bố sẽ mang về cho con.
Rồi bố hôn ba con ra đi.
Đến ngày về, ông bố mua được đủ ngọc và kim cương cho hai
con lớn. Còn chim sơn ca nhảy nhót và hót véo von, thì ông tìm
khắp nơi mà chẳng thấy. Ông lấy làm buồn lắm vì cô út là con cưng
của ông. Ông đi qua một khu rừng trong đó có một tòa lâu đài lộng
lẫy. Bên lâu đài có một cái cây. Tít trên ngọn cây, ông thấy một con
chim sơn ca vừa nhảy vừa hót véo von.
Ông mừng quá kêu lên:
- Chà! Chú mày hiện ra thật đúng lúc.
Ông bèn gọi đầy tớ bảo trèo cây bắt chim. Nhưng khi ông vừa
bước lại gần bỗng có một con sư tử nhảy chồm lên, quẫy người gầm,
làm chuyển động cả cành lá.
Sư tử hét lên:
- Ta sẽ ăn thịt đứa nào lấy trộm con chim sơn ca nhảy nhót hót
véo von của ta.
Người bố thưa:
- Bẩm ông, tôi không biết là chim của ông. Ông cho tôi chuộc tội
bằng vàng khối. Xin ông tha chết cho tôi.
Sư tử nói:
- Người muốn sống phải hứa về nhà gặp cái gì trước tiên phải
làm cho ta cái đó làm của riêng. Nếu ngươi chịu thì ta tha chết mà
lại tặng thêm con chim cho cô con gái cưng của ngươi nữa.
Người bố từ chối đáp:
- Nhỡ ra khi tôi về nhà gặp ngay con gái út tôi thì biết làm thế
nào? Cháu yêu tôi lắm, bao giờ cũng chạy ra đón tôi.
Nhưng người đầy tớ sợ bảo:
- Thưa ông, có thể ông gặp đúng cô út, nhưng biết đâu lại chẳng
gặp con mèo, con chó gì đó.
Người bố nghe xuôi tai, cầm lấy con chim sơn ca nhảy nhót, hót
véo von, và hứa về nhà gặp gì trước tiên sẽ cho sư tử. Ông ta về tới
nhà thì gặp ngay đúng con gái út cưng nhất. Cô ta chạy lại hôn bố,
vuốt ve bố. Cô thấy bố mang về một con chim sơn ca nhảy nhót, hót
véo von, thì mừng mừng rỡ.
Bố thì chẳng vui mừng chút nào, khóc lóc bảo con:
- Con yêu của bố ơi, bố mua cho con con chim nhỏ này bằng giá
rất đắt. Bố đã phải hứa đem con cho một con sư tử. Nó mà được con
là nó xé xác con ra ăn thịt mất.
Rồi ông kể lại đầu đuôi câu chuyện, bảo con chớ có đi, thôi thì
cũng đành liều, muốn ra sao thì ra. Cô gái an ủi ông và nói:
- Bố yêu của con ơi, bố đã hứa thì phải làm. Bố để con đi đến
chỗ ấy làm cho sư tử nguôi giận. Sau đó con sẽ trở về, không can gì
đâu.
Sớm hôm sau, cô hỏi đường, từ biệt bố, ung dung đi vào rừng.
Thật ra con sư tử là một ông hoàng bị phù phép, ban ngày thì
bản thân và kẻ hầu người hạ đều là sư tử cả, đến đêm lại hiện
nguyên hình người. Cô gái được tiếp đón rất niềm nở và đưa vào
cung điện. Đêm đến, sư tử hiện thành một người rất đẹp. Lễ cưới tổ
chức linh đình. Hai vợ chồng sống với nhau rất vui vẻ, ngày ngủ
đêm thức.
Một hôm, chàng bảo:
- Mai ở nhà em có lễ cưới đấy. Chị cả lấy chồng. Nếu em thích
đi thì để bảo bầy sư tử đưa đi.
Nàng thưa vâng vì cũng muốn về thăm bố luôn thể. Bầy sư tử
đi theo nàng.
Ở nhà thấy nàng về thì mừng quá vì ai cũng tưởng là nàng đã
bị sư tử xé xác ăn thịt từ lâu rồi. Nàng kể chuyện đã lấy được chồng
đẹp ra sao, mọi việc đều tốt lành. Nàng ở lại nhà suốt thời gian cưới
rồi lại về rừng.
Đến lúc chị hai đi lấy chồng, nàng lại được mời về dự lễ cưới
bảo sư tử:
- Lần này em không muốn đi một mình. Chàng phải đi cùng
em.
Sư tử đáp là như thế rất nguy vì nếu bị ánh sáng của đèn, lửa,
chiếu phải thì chàng sẽ biến ngay ra chim bồ câu, bay suốt bảy năm
trời ròng rã.
Nàng bảo:
- Không sao chàng ạ. Chàng cứ đi với em. Em nhất quyết giữ
cho chàng, tránh cho chàng khỏi bị bất kỳ ánh sáng gì chiếu phải.
Hai vợ chồng cùng ra đi, mang theo cả con nhỏ. Tới nơi, nàng
cho làm cái buồng tường thật dày, ánh sáng không lọt vào được.
Chàng phải ngồi trong đó, trong khi đèn nến đám cưới thắp lên ở
ngoài. Nhưng cửa làm bằng gỗ tươi bị nứt một kẽ nhỏ, không ai
biết. Đám cưới rất linh đình, ở nhà thờ về có nhiều đèn đuốc. Khi đi
qua phòng, có một tia sáng nhỏ như sợi tóc lọt vào chiếu phải người
hoàng tử. Hoàng tử biến hình liền. Vợ vào tìm chàng chẳng thấy,
chỉ thấy một con chim bồ câu trắng. Chim bồ câu bảo nàng:
- Trong bảy năm ròng rã, anh sẽ phải bay đi khắp bốn phương
trời. Cứ bảy bước anh sẽ nhả xuống một giọt máu đào và để rơi
xuống một chiếc lông trắng để đánh giấu đường đi. Em cứ theo vết
anh đi thì sẽ giải thoát được cho anh.
Nói rồi bồ câu bay ra cửa. Nàng đi theo vết chim. Cứ bảy bước
lại có một giọt máu đào và một chiếc lông trắng rơi xuống chỉ
đường. Nàng đi mãi khắp chân trời góc bể không ngoái cổ nhìn
quanh, không nghỉ ngơi. Bảy năm dài đằng đẵng sắp qua, nàng lấy
làm mừng là sắp được giải thoát nhưng thật ra thì còn lâu. Rồi
bỗng nàng không thấy lông và máu đào rơi xuống nữa. Nàng ngẩng
lên nhìn thấy chim bồ câu đã biến mất. Nàng nghĩ bụng thiên hạ
chắc không ai cứu giúp được mình, liền lên mặt trời hỏi:
- Mặt trời ơi, ánh mặt trời lọt vào các khe ngách, vượt mọi đỉnh
cao, mặt trời có nhìn thấy con bồ câu trắng nào bay qua không?
Mặt trời đáp:
- Không, nàng ạ. Ta chẳng thấy chim bồ câu nào. Nhưng để ta
cho nàng một cái hộp nhỏ, khi nào cần lắm hãy mở ra.
Nàng cảm tạ mặt trời rồi lại đi cho đến tối. Trăng lên, nàng hỏi:
- Trăng ơi trăng tỏ suốt đêm, trăng đi qua khắp đồng ruộng núi
rừng, trăng có thấy con chim bồ câu trắng nào bay qua không?
Trăng đáp:
- Không, nàng ạ. Ta chẳng thấy chim bồ câu nào. Nhưng thôi
để ta biếu nàng một quả trứng, khi nào cùng lắm hãy mở ra.
Nàng cảm ơn trăng, lại đi đến lúc gió đêm thổi. Nàng hỏi gió:
- Gió ơi, gió thổi khắp ngọn cây cành lá, gió có thấy con chim bồ
câu trắng nào bay qua không?
Gió đêm đáp:
- Không, ta chẳng thấy con chim bồ câu nào. Nhưng để ta hỏi
ba ngọn gió khác, may ra chúng có thấy chăng.
Gió đông và gió tây không thấy gì. Gió nam bảo:
- Ta có nhìn thấy chim bồ câu trắng bay về Hồng hải. Nó lại
biến thành sư tử vì hạn bảy năm đã hết. Sư tử hiện đương đánh
nhau với một con rồng, rồng đó là một nàng công chúa bị phù phép.
Gió đêm bèn bảo nàng:
- Ta khuyên nàng nên đi tới Hồng hải. Ở bờ bên phải có nhiều
gốc sậy to. Nàng đếm đến cây thứ mười một thì đem về để đánh
rồng. Như vậy thì sư tử có thể thắng được rồng, cả hai lại hiện
nguyên hình thành người. Sau đó nàng hãy quay nhìn lại, sẽ thấy
chim ưng ngồi bên bờ Hồng hải, nàng hãy cùng người yêu cưỡi lên
lưng nó. Chim sẽ mang hai vợ chồng nàng vượt bể về nhà. Ta cho
nàng một hạt dẻ. Chim bay đến giữa bể thì nàng ném hạt xuống,
hạt sẽ nảy mầm. Một cây dẻ lớn mọc từ dưới nước lên làm chỗ cho
chim đậu để nghỉ. Nếu chim không được nghỉ ngơi thì nó không đủ
sức mang hai người đi đâu. Nếu nàng quên vứt hạt giẻ thì nó quẳng
hai người xuống bể.
Nàng lại đi và thấy mọi việc xảy ra đúng như lời gió đêm nói.
Nàng đếm gốc sậy ở bờ bể, chặt lấy cây thứ mười một để đánh rồng.
Sư tử quả là thắng rồng. Lập tức cả sư tử và rồng đều lại hiện
nguyên hình người.
Nhưng công chúa vừa mới được giải khỏi phù phép, biến từ
rồng thành người liền nắm tay Hoàng tử kéo lên cưỡi chim ưng
cùng đi mất.
Tội nghiệp cô gái tha phương lại bị bỏ rơi. Nàng ngồi khóc. Mãi
sau nàng mới lấy lại can đảm và nghĩ bụng:
- Gió đưa đến đâu, ta đi đến đấy, gà còn gáy ta còn đi, đi cho
đến lúc tìm thấy chàng.
Rồi nàng đi mãi, đi mãi đến tòa lâu đài là nơi Hoàng tử và công
chúa ở. Tới nơi nàng nghe nói là sắp tổ chức lễ cưới hai người. Nàng
liền mở hộp của mặt trời cho: trong hộp có một cái áo sáng như mặt
trời. Nàng lấy áo ra mặc rồi đi vào lâu đài. Tất cả mọi người kể cả
cô dâu đều trố mắt ra nhìn. Cô dâu thích chiếc áo quá, mong sao lấy
được làm áo cưới. Cô dâu hỏi nàng có bán áo không.
Nàng trả lời:
- Tôi không bàn áo lấy tiền bạc, chỉ đổi lấy xương thịt thôi.
Cô dâu hỏi ý nàng định nói gì. Nàng đáp:
- Tôi xin ngủ một đêm trong phòng chú rể.
Cô dâu không muốn thế, nhưng lại thích chiếc áo. Cô cũng
thuận, nhưng bắt người hầu cẩn thận cho Hoàng tử uống thuốc
ngủ.
Đêm đến, chàng đã ngủ, người ta dẫn nàng vào phòng. Nàng
ngồi bên giường bảo:
- Em theo chàng đã bảy năm tròn, em đã đi tìm mặt trời, mặt
trăng và bốn ngọn gió để hỏi tin chàng, em đã giúp chàng thắng
được con rồng, chàng nỡ lòng nào lại quên em?
Hoàng tử ngủ say, chỉ cảm thấy như có tiếng gió rì rào bên
ngoài trong đám lá thông.
Đến sáng, người ta dẫn nàng ra khỏi phòng. Thế là nàng mất
không chiếc áo vàng. Mất công vô ích, nàng ra cánh đồng cỏ ngồi
khóc. Nàng chợt nhớ đến quả trứng của mặt trăng cho. Nàng đập
trứng ra thì thấy một con gà mái ấp và mười hai con gà con tuyền
bằng vàng, chạy tung tăng kêu chiếp chiếp, rồi lại rúc vào cánh mẹ,
nom thật đẹp. Nàng liền đứng dậy xua gà đến cánh đồng cỏ cho đến
lúc cô dâu nhìn qua cửa sổ thấy đàn gà con thích quá, xuống hỏi
mua. Nàng đáp:
- Tôi không bán gà lấy tiền bạc, chỉ đổi lấy xương thịt thôi. Tôi
xin ngủ trong buồng chú rể một đêm.
Cô dâu đồng ý, lại định đánh lừa nàng như tối hôm trước.
Nhưng khi Hoàng tử đi nằm thì chàng hỏi người hầu xem tiếng rì
rào đêm trước là gì. Người hầu kể lại hết: hắn phải cho chàng uống
thuốc ngủ vì có một cô gái đáng thương đã lén vào ngủ trong phòng
và đêm nay hắn sẽ lại phải cho chàng uống thuốc ngủ nữa. Hoàng
tử bảo:
- Ngươi hãy đổ thuốc ngủ xuống bên giường ta.
Đến đêm, người ta lại dẫn nàng vào phòng chàng. Nàng vừa
bắt đầu kể lại cuộc tình duyên đau khổ thì chàng nhận ra ngay
tiếng nói của người vợ hiền. Chàng ngồi nhỏm dậy kêu lên:
- Bây giờ anh mới thật được giải khỏi phù phép. Anh đã sống
như trong giấc mơ vì công chúa kia phù phép anh để anh quên
nàng.
Đến đêm, chàng và nàng lén ra khỏi lâu đài vì họ sợ bố công
chúa là một người phù thủy. Hai vợ chồng cưỡi chim ưng, vượt bể
Hồng hải, tới quãng giữa thì nàng thả hạt dẻ xuống. Một cây dẻ lớn
liền mọc lên làm chỗ đậu nghỉ ngơi cho chim. Chim đưa họ về nhà,
họ lại gặp con, con đã khôn lớn đẹp đẽ. Họ sống với nhau sung
sướng cho đến khi chết.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Anh chàng đánh trống
Một buổi tối, chàng đánh trống trẻ tuổi đi một mình giữa cánh
đồng. Tới bên một cái hồ, anh thấy trên bờ ba chiếc áo trắng của ai
vứt đó. Anh khen: "Vải đẹp quá!". Rồi nhét luôn một chiếc vào túi.
Về nhà, anh cũng quên khuấy mất câu chuyện nhặt được của rơi.
Anh lên giường nằm, sắp ngủ chợt nghe như có tiếng người gọi tên
mình. Anh lắng nghe thì quả có tiếng gọi rất khẽ: "Anh đánh trống
ơi, anh đánh trống ơi, dậy đi thôi". Đêm tối quá, anh không nhìn
thấy rõ người nhưng anh thấy rõ một cái bóng cứ lơ lửng trước
giường anh nằm.
Anh hỏi:
- Mày muốn g´?
Tiếng người đáp:
- Trả lại cho tôi cái áo, cái áo anh đã lấy của tôi ở bờ hồ tối nay
ấy.
Anh đánh trống nói:
- Được, ta sẽ trả, song mày phải cho ta biết mày là ai đã.
"Trời!", tiếng người đáp. "Tôi là con gái một ông vua hùng
cường. Chẳng may tôi sa vào tay một mụ phù thủy và bị nó đầy lên
ngọn núi Thủy tinh. Ngày nào ba chị em tôi cũng xuống hồ tắm.
Hôm nay vì mất áo, tôi không về được nữa. Các chị đã bay đi cả rồi,
riêng tôi phải ở lại. Tôi van anh, anh hãy trả lại áo cho tôi".
Anh đánh trống nói: "Cứ yên chí, cô bé đáng thương ơi, tôi sẵn
lòng trả lại áo cho cô".
Anh rút túi lấy áo trả lại cho người đứng trong bóng tối. Người
con gái vội cầm lấy định đi ngay.
Anh gọi cô ta lại:
- Hãy khoan đã, may ra tôi có thể giúp cô chăng?
- Muốn giúp tôi thì chỉ có cách là anh lên ngọn núi Thủy tinh
mà cửu tôi thoát khỏi phép thuật của mụ phù thủy. Nhưng anh lên
núi làm sao nổi, dù anh có lọt vào sát tới chân núi, anh vẫn không
thể lên được.
Anh đánh trống nói:
- Tôi thương cô và tôi không sợ gì hết. Nhưng tôi không biết
đường đi.
Người con gái đáp:
- Đường đi qua một khu rừng lớn. Trong rừng có bọn khổng lồ
ăn thịt người, tôi chỉ được phép nói với anh thế thôi. Nói xong cô gái
biến mất.
Sớm hôm sau, trời vừa rạng sáng, anh đánh trống lên đường,
đeo trống đi thẳng vào rừng không chút sợ hãi. Đi được một lát mà
vẫn chưa thấy tên khổng lồ nào, anh nghĩ bụng: "Phải đánh thức
cái bọn ngủ trưa này dậy". Anh bèn xoay trống ra phía trước, khua
vang một hồi, khiến chim chóc trên cây đều xao xác bay đi.
Chỉ một lát sau, thấy một tên khổng lồ nằm ngủ trong bụi cỏ
nhỏm dậy. Hắn đứng cao lênh khênh như một cây thông.
Hắn thét:
- Thằng nhóc kia, mày làm gì mà khua ầm lên, làm mất giấc
ngủ ngon.
Anh đáp:
- Ta đánh trống để chỉ đường cho hàng vạn người còn đi sau ta
và sắp kéo cả đến đây bây giờ.
Tên khổng lồ nói:
- Ui chao, tao sẽ giẫm chết bọn mày như giẫm chết đàn kiến ấy.
Anh đánh trống tiếp lời:
- Mày tưởng mày chống cự nổi họ à? Mày cúi xuống định chộp
một người thì người đó lập tức nhảy đi và ẩn nấp ngay. Nhưng đợi
lúc mày đi nằm, ngủ lại rồi, từ khắp các bờ bụi, họ mới kéo ra và
trèo lên người mày. Người nào cũng có một cây búa sắt giấu trong
thắt lưng, họ sẽ đập vỡ sọ mày ra.
Tên khổng lồ thấy ngài ngại. Hắn nghĩ bụng: "Mình mà dây với
lũ ranh ma này, kéo lại bị hại. Sói và gấu, ta bóp cổ chết tươi ngay,
nhưng cái đám sâu đất này thì khó chơi đây.
Hắn nói:
- Nghe này, thằng nhóc, mày hãy cút đi, ta hứa từ nay về sau
không đụng đến mày và đồng bọn của mày. Và nếu như mày muốn
gì nữa thì cứ nói, ta sẵn sàng làm mày vui lòng.
Anh đánh trống nói:
- Chân mày dài, mày có thể chạy nhanh hơn tao, mày hãy đem
ta lên ngọn núi Thủy tinh. Ta sẽ ra hiệu cho người của ta rút đi thì
mày được yên ổn.
Tên khổng lồ nói:
- Lại đây, giống sâu bọ kia, leo lên vai ta mà ngồi, ta sẽ đem
mày lên đó.
Tên khổng lồ nhấc anh lên. Ngồi yên trên đó rồi, anh lại bắt
đầu khua trống rộn lên một hồi. Tên khổng lồ nghĩ bụng: "Có lẽ nó
đang làm hiệu cho bọn kia rút".
Đi được một quãng thì gặp một tên khổng lồ nữa. Hắn nhấc
luôn anh đánh trống khỏi vai tên kia và mắc anh vào một khuy áo.
Anh đánh trống vội bám vào cái khuy, to bằng cái chậu sành ngồi
chắc ở đó, ngó nhìn xung quanh, có vẻ rất thích thú. Lại gặp một
tên thứ ba, tên này lôi anh ra khỏi cái lỗ khuy áo và giắt anh lên
vành mũ của hắn. Anh đánh trống ngồi rập rình trên đó, nhìn qua
các ngọn cây, thấy tít tắp phía xa xanh biếc có một trái núi. Anh
nghĩ bụng: "Chắc là ngọn núi Thủy tinh". Mà cũng đúng thế thật.
Tên khổng lồ chỉ đi có vài bước nữa là tới sát bên chân núi, hắn
đặt anh xuống đất. Anh đánh trống đòi hắn đưa luôn anh lên đỉnh
núi, song hắn lắc đầu nói lẩm bẩm câu gì trong miệng rồi quay vào
rừng.
Trước mặt anh chàng đánh trống đáng thương là một trái núi
cao ngất, đến bằng ba trái núi thường xếp chồng lên nhau. Sườn
núi láng như gương, không còn biết trèo lên bằng cách nào cho
được. Anh cốâ trèo lên nhưng vô hiệu, lần nào cũng bị tuột. Anh nghĩ
bụng: "Ước gì lúc này mình là chim". Nhưng ước suông nào được ích
g´, cành vẫn không thấy mọc. Giữa lúc anh đứng ngây ra chưa biết
làm gì bỗng cách đấy không xa lắm có hai người đang cãi nhau rất
hăng. Anh đi lại phía họ thì thấy họ đang tranh nhau một cái yên
ngựa vứt trên mặt đất, người nào cũng muốn lấy cái yên đó.
Anh nói:
- Các anh mới ngốc làm sao, ngựa chẳng có, giành giật nhau cái
yên để làm g´?
Một người đáp:
- Tranh nhau cái yên đó là có lý do, ai ngồi lên yên muốn đi đâu
cũng được. Dù muốn đến tận cùng thế giới thì cũng chỉ nói một câu
là sẽ tới ngay trong nháy mắt. Yên vốn là của chung chúng tôi, bữa
nay đến lượt tôi cưỡi song gã nay lại không chịu.
Anh đánh trống nói:
- Được để tôi phân xử cho.
Anh đi một quãng và cắm một cái gậy trắng xuống đất. Đoạn
anh quay lại bảo:
- Giờ hai người cứ nhằm cái đích kia mà chạy, ai đến trước thì
người đó sẽ được ngồi trước.
Hai người thì nhau chạy, song họ mới chạy được vài bước thì
anh đánh trống đã nhảy tót lên yên ngựa. Anh ước được lên ngọn
núi Thủy tinh, tức thì chưa kịp trở bàn tay, anh đã ở trên đó rồi.
Trên núi có một chỗ đất bằng. ở đó có một ngôi nhà xây bằng đá
đã cũ. Trước cửa có một cái ao cá lớn, phía sau là rừng rậm. Anh
chẳng thấy người nào, vật nào cả. Khung cảnh yên lặng, chỉ có
tiếng gió thổi vi vu trên ngọn cây và mây lững lờ trôi qua sát ngay
trên đầu.
Anh bước tới gõ cửa. Gõ đến lần thứ ba thì thấy một mụ già ra
mở cửa. Mặt mụ đen xạm, đôi mắt đỏ ngầu. Mụ mang một cặp kính
trên cái sống mũi dài thườn thượt, ngó anh trừng trừng và hỏi anh
muốn gì. Anh đáp:
- Cho tôi vào ăn và ngủ nhờ
Mụ già nói:
- Được, nếu người chịu làm cho ta ba việc.
Anh đáp:
- Được thôi, tôi chẳng ngại việc gì hết, dù là việc nặng nhọc.
Mụ già cho anh vào, cho anh ăn và tối hôm đó xếp cho anh một
cái giường rất êm.
Sớm hôm sau, đợi anh đã ngủ no mắt rồi, mụ mới rút từng
ngón tay khẳng khiu của mụ ra một cái đê khâu đưa cho anh và
bảo:
- Giờ ngươi đi làm đi, ngươi hãy cầm lấy cái đê này tát cạn ao
trước nhà cho ta, hẹn đến tối phải xong, và cá dưới nước đã bắt hết
lên phải xếp theo từng giống cá và tùy theo cỡ lớn nhỏ.
Anh đánh trống nói:
- Thật là một việc hiếm có.
Nhưng anh vẫn cứ ra ao và bắt đầu tát nước. Anh tát suốt
sáng, nhưng với một đê khâu bé tẹo, sao tát cạn nổi một lượng nước
lớn như vậy, dù có dài đến ngàn năm đi nữa?
Đến giữa trưa, anh tự nhủ:
- Thế là toi công, làm cũng như không làm.
Anh dừng tay rồi xuống. Vừa khi ấy, một người con gái từ trong
nhà đi ra, xách một làn thức ăn đưa cho anh và hỏi:
- Anh ngồi thừ ra đấy trông buồn quá, có điều gì thế?
Anh ngước nhìn thấy người con gái thật là tuyệt đẹp. Anh nói:
- Chà, mới việc thứ nhất đã làm chưa xong, không biết rồi
những việc khác sẽ ra thế nào? Tôi đi tìm một nàng công chúa ở đâu
trong này song không thấy; tôi muốn đi nữa đây.
Người con gái bảo :
- Cứ ở đây, tôi sẽ giúp anh làm việc khó khăn này. Anh mệt rồi,
hãy tạm ngả đầu vào lòng tôi đây mà ngủ. Lúc nào anh trở dậy, việc
cũng sẽ vừa xong.
Anh đánh trống không đợi mời đến lần thứ hai. Anh nhắm mắt
thì người con gái xoay chiếc nhẫn thầm nói:
- Nước lên đi, cá ra đi.
Tức thì nước lên hơi như sương trắng và cùng mây trôi đi. Cá
quẫy lên, nhảy cả lên bờ nằm cạnh nhau xếp theo loại và theo cỡ
lớn nhỏ.
Đến khi tỉnh dậy, anh đánh trống ngạc nhiên thấy mọi việc đã
đâu vào đấy. Nhưng người con gái bảo:
- Có một con cá không nằm cùng với đồng loại của nó, mà lại
nằm riêng một mình. Chiều tối, mụ già đến, thấy mọi việc đã xong
như ý mụ muốn, thế nào mụ cũng hỏi: "Tại sao có một con cá này?".
Khi ấy anh hãy ném ngay con cá vào mặt mụ mà nói: "Để phần mày
đấy, con mụ phù thủy già ạ".
Chiều tối, mụ già đến. Mụ vừa dứt lời hỏi, anh đánh trống ném
ngay con cá vào mặt mụ. Mụ cứ lờ đi như không có việc gì xảy ra,
chẳng nói một câu, nhưng mụ nhìn anh một cách rất nham hiểm.
Sớm hôm sau, mụ bảo:
- Việc hôm qua dễ quá, ta phải giao cho mày một việc nặng
hơn. Bữa nay, mày phá cho cả khu rừng ngoài khi, phải bổ cây
thành củi, bổ xong phải xếp thành từ thước một và cũng hạn cho
đến chiều tối phải xong.
Mụ đưa cho anh một cây rìu, một con dao rựa với hai con nêm.
Nhưng lưỡi rìu lại bằng chì, con dao với nêm đều bằng sắt tây. Anh
vừa bắt tay vào việc, rìu đã bị quằn lưỡi, rựa và nêm đều bẹp rúm.
Anh không còn biết xoay xở ra sao.
Nhưng đến trưa, người con gái hôm trước lại đem thức ăn tới
cho anh. Cô an ủi anh:
- Anh ngả đầu vào lòng tôi mà ngủ đi, khi nào anh tỉnh dậy,
mọi việc sẽ xong cả.
Người con gái lại xoay chiếc nhẫn thần. Trong nháy mắt cả
rừng chuyển mình răng rắc, rồi sập xuống, từng cây gỗ cứ tự tách
ra thành củi, rồi những thanh củi nhỏ lại tự xếp thành từng thước.
Dường như có những người khổng lồ vô hình nào đã làm việc đó.
Lúc anh thức giấc, người con gái bảo:
- Anh thấy không, gỗ đã được bổ và xếp thành đống rồi. Chỉ còn
mỗi một cành. Chiều nay mụ già có tới hỏi sao còn sót thì anh lấy
cành cây quật cho mụ một cái mà bảo: "Để phần cho mày đó, mụ
phù thủy ạ".
Mụ già đến, mụ nói:
- Thấy không, việc thật là quá dễ. Nhưng còn cái cành kia để
cho ai đó?
Anh đáp:
- Để cho mày đó, mụ phù thủy ạ.
Rồi anh quất cho mụ một roi. Nhưng mụ vẫn cứ lờ đi như
không có gì xẩy ra. Mụ chỉ cười mỉa mai và bảo
- Sớm mai mày phải đem hết gỗ chất lại thành một đống, nhóm
lửa đốt đi cho ta.
Trời vừa sáng thì anh thức giấc và bắt đầu di chuyển gỗ.
Nhưng chỉ có một mình anh thì làm sao chuyển nổi được cả một
rừng gỗ. Công việc cứ ´ ạch mãi. Nhưng người con gái không bỏ anh
trong lúc khó khăn. Buổi trưa, cô đem thức ăn đến cho anh. Ăn
xong, anh lại ngả đầu vào lòng cô mà ngủ.
Lúc anh tỉnh dậy thì cả đống gỗ đã đỏ rực lửa, ngọn lửa liếm
đến tận trời xanh. Người con gái nói:
- Anh ạ, lát nữa con mụ đến, thế nào nó cũng sẽ bắt anh làm
nhiều thứ, nó bảo gì anh cứ nhận, đừng sợ, nó không làm gì được
anh đâu. Anh mà sợ thì lửa sẽ bắt vào người anh và thiêu anh ra
tro tức khắc. Cuối cùng, khi anh đã làm xong mọi việc rồi, anh hãy
ôm luôn cả con mụ quẳng nó vào đống lửa.
Người con gái đi được một lúc thì mụ già rón rén tới. Mụ kêu:
- Chà, rét quá, nhưng đống lửa cháy to cũng làm ấm được nắm
xương già; ta thấy dễ chịu quá. Nhưng còn khúc gỗ không cháy kia
kìa, mày hãy khuân ra đây cho ta. Mày làm xong được nốt việc này,
ta cho mày tự do muốn đi đâu thì đi. Cứ nhanh nhẹn mà bước vào
đi.
Anh đánh trống không nghĩ ngợi lâu, nhảy luôn vào giữa đống
lửa, nhưng lửa không đụng gì đến anh, cũng không thiêu mất một
sợi tóc của anh. Anh khuân khúc gỗ ra, đặt xuống.
Khúc gỗ vừa chạm mặt đất thì biến thành người con gái đẹp đã
từng giúp anh qua bao khó khăn. Thấy quần áo óng ánh như vàng
của nàng anh nhận ngay ra đó là công chúa.
Nhưng mụ già vẫn cười rất thâm độc. Mụ bảo:
- Mày tưởng con bé ấy đã ở trong tay mày rồi sao? Chưa đâu!
Mụ vừa định chạy đến chỗ người con gái để lôi cô ta đi thì mụ
bị anh dang hai tay ôm lại, nâng bổng lên và ném vào giữa đống lửa
đang ngùn ngụt cháy. Lửa cuốn lấy mụ, dường như lửa cũng lấy
làm mừng được kết liễu cuộc đời một mụ phù thủy.
Công chúa ngước nhìn anh đánh trống, thấy anh đẹp trai, lại
nhớ đến anh đã không tiếc cả tính mạng để cứu mình, nàng bèn
đưa tay cho anh và bảo:
- Chàng đã dám làm tất cả vì thiếp, thì thiếp cũng sẽ sẵn sàng
làm tất cả vì chàng. Chỉ cần chàng hứa chung thủy, thiếp sẽ xin lấy
chàng. Của cải không thiếu, riêng số của mụ phù thủy thu gom tại
đây, cũng thừa đủ đối với chúng ta.
Công chúa dẫn anh vào trong nhà, hòm, rương đều đầy ắp của.
Hai người không lấy vàng, không lấy bạc mà chỉ lấy châu báu. Họ
không muốn ở trên núi Thủy tinh lâu nữa. Anh bảo công chúa:
- Nàng hãy ngồi ghé vào bên yên, chúng ta sẽ bay xuống như
chim.
Nàng đáp:
- Thiếp không ưa cái yên ngựa cũ kỹ đó, thiếp chỉ cần xoay
chiếc nhẫn thần này của thiếp thì đôi ta ở nhà rồi.
Anh đánh trống nói:
- Tốt thôi, thế thì nàng hãy ước cho chúng ta đến trước cổng
thành.
Trong nháy mắt, hai người đã ở đó. Anh đánh trống bảo:
- Anh muốn về qua nhà cho cha mẹ biết tin đã. Nàng cứ đợi
anh ở cánh đồng này, anh sẽ trở lại ngay.
Công chúa đáp:
- Trời ơi, thiếp xin chàng, chàng hãy lưu ý, về nhà chàng chớ có
hôn cha mẹ chàng lên má bên phải; nếu không chàng sẽ quên hết
mọi việc còn thiếp sẽ cứ phải bơ vơ chờ mãi ở cánh đồng này.
- Ta quên nàng sao được,
Anh nắm tay nàng hứa sẽ trở lại ngay tức khắc.
Lúc anh về tới nhà, không người nào biết anh và anh đã thay
đổi quá nhiều. Ba ngày trên núi Thủy tinh dài bằng ba năm. Anh
phải tự giới thiệu, khi đó bố mẹ mới sung sướng ôm chầm lấy anh.
Quá xúc động anh quên bẵng mất lời người con gái đã dặn, hôn
luôn bố mẹ vào cả hai bên má. Sau khi anh hôn lên má bên phải bố
anh và mẹ anh thì anh không còn nhớ gì đến nàng công chúa nữa.
Anh dốc túi lấy ra một nắm những hạt ngọc lớn nhất, để lên mặt
bàn. Bố mẹ không biết dùng của cải đó vào việc gì. Ông cụ bèn làm
một tòa lâu đài thật lộng lẫy; chung quanh nhà nào vườn, nào rừng,
nào đồng cỏ, như dinh cơ của một ông hoàng vậy... Lúc đã xây nhà
xong, bà cụ bảo:
- Mẹ đã kiếm cho con được một người con gái rồi đấy, ba hôm
nữa sẽ làm lễ cưới.
Bố mẹ anh muốn sao, anh cũng bằng lòng hết.
Còn nàng công chúa đáng thương kia vẫn đứng đợi ngoài ở
ngoài cổng thành. Mãi đến tối, nàng mới tự nhủ: "Chắc là chàng đã
hôn lên má bên phải của cha mẹ chàng nên đã quên ta mất rồi".
Trong dạ rất buồn nàng bèn ước được một ngôi nhà nhỏ hẻo lánh
trong rừng, nàng không muốn trở về triều đình vua cha nữa. Chiều
nào, nàng cũng vào thành, đi qua trước cửa nhà chàng. Đôi khi
chàng cũng có trông thấy nàng nhưng không nhận ra được là ai.
Sau nàng thấy thiên hạ bàn tán: "Mai sẽ làm lễ cưới anh ta đấy",
nàng tự nhủ: "mình cứ cố xem, biết đâu không chiếm lại được trái
tim chàng".
Đợi tới ngày thứ nhất của lễ cưới, nàng xoay chiếc nhẫn và ước:
"Một chiếc áo sáng như mặt trời".Tức thì cái áo hiện ngay ra trước
mặt nàng, rực rỡ lạ thường, như dệt toàn bằng ánh nắng vậy. Khi
khách khứa đã đến đông đủ cả, nàng mới bước vào trong phòng.
Anh rất ngạc nhiên về tấm áo đẹp, nhất là cô dâu. Xưa nay cô dâu
vốn chỉ mê quần áo đẹp, vội tiến lại tiến về phía người khách lạ, hỏi
xem khác có muốn bán áo chăng.
Công chúa đáp:
- Tôi không lấy tiền, chỉ cần đêm tân hôn cho phép tôi đứng
ngay tại trước phòng chú rể ngủ, tôi sẽ cho không chiếc áo.
Cô dâu thích áo quá đồng ý ngay, nhưng sau đó cô đã tinh khôn
trộn ngay ít thuốc ngủ vào cốc rượu của chú rể, làm chú rể ngủ li bì.
Đợi lúc đâu đấy yên tĩnh cả, công chúa mới đến ngồi trước cửa
phòng ngủ, khẽ mở cánh cửa gọi vọng vào trong:
- Chàng đánh trống ơi, chàng đánh trống ơi, hãy nghe lời thiếp.
Chàng quên thiếp rồi sao? Trên núi Thủy tinh, chàng ngồi bên cạnh
thiếp, chống mụ phù thủy, thiếp đã bảo vệ chàng! Chàng nắm tay
thiếp, thề thốt trăm năm, Chàng đánh trống ơi, chàng đánh trống
ơi, hãy nghe lời thiếp!
Nhưng nào có ích gì, anh đánh trống vẫn không tỉnh giấc. Rạng
hôm sau, công chúa đành bỏ đi, không được gì cả.
Tối thứ hai, nàng công chúa lại xoay chiếc nhẫn thần và ước:
"Một chiếc áo bằng bạc như ánh trăng". Thấy nàng mặc chiếc áo
thanh lịch như ánh trăng đi vào đám lễ, cô dâu lại nổi lòng tham và
lại đồng ý cho nàng đứng một đêm nữa trước cửa phòng ngủ để đổi
lấy chiếc áo. Đợi đến đêm khuya thanh vắng nàng lại gọi:
- Chàng đánh trống ơi, chàng đánh trống ơi, hãy nghe lời thiếp.
Chàng quên thiếp rồi sao? Trên núi Thủy tinh, chàng ngồi bên cạnh
thiếp, chống mụ phù thủy, thiếp đã bảo vệ chàng! Chàng nắm tay
thiếp, thề thốt trăm năm. Chàng đánh trống ơi, chàng đánh trống
ơi, hãy nghe lời thiếp!
Nhưng nàng không thể đánh thức được chàng đánh trống đã
uống thuốc ngủ. Sớm hôm sau, công chúa lại đành trở về ngôi nhà
nhỏ trong rừng, lòng buồn vô hạn. Có người ở trong nhà nghe được
tiếng than của nàng đêm trước đã kể lại cho chú rể nghe. Họ cũng
nói cho chàng rõ là vì chàng đã uống phải thuốc ngủ trong rượu nên
không thể nghe thấy được những lời than đó.
Tối ngày thứ ba, công chúa lại xoay chiếc nhẫn thần và ước:
"Một chiếc áo lấp lánh như sao". Thấy nàng mặc chiếc áo đó vào dự
lễ, hai chiếc áo trước đã đẹp mà còn thua xa, cô dâu rất tức tối. Cô
ta tự nhủ: "Ta phải lấy chiếc áo ấy và nhất định ta sẽ lấy được".
Cũng như hai lần trước công chúa lại đổi chiếc áo để được phép qua
một đêm ở trước cửa phòng chú rể. Nhưng lần này chú rể không
uống cốc rượu đưa trước khi đi ngủ anh để rượu ra mé sau giường
nằm. Và đến lúc trong nhà đã yên tĩnh đâu đấy cả, anh nghe có
tiếng có tiếng người dịu dàng gọi anh:
- Chàng đánh trống ơi, chàng đánh trống ơi, hãy nghe lời thiếp.
Chàng quên thiếp rồi sao? Trên núi Thủy tinh, chàng ngồi bên cạnh
thiếp, chống mụ phù thủy, thiếp đã bảo vệ chàng! Chàng nắm tay
thiếp, thề thốt trăm năm. Chàng đánh trống ơi, chàng đánh trống
ơi, hãy nghe lời thiếp!
Anh chợt nhớ lại tất cả mọi chuyện. Anh kêu lên:
- Trời! Sao ta lại có thể ăn ở bội bạc như thế nhỉ? Nhưng lỗi
chính là ở cái hôn, cái hôn giữa lúc bối rối ta đã đặt lên má bên phải
của cha mẹ ta, nó đã làm cho ta u mê đi.
Anh vùng dậy, dắt tay công chúa dẫn đến trước giường nằm
của bố mẹ. Anh nói:
- Đây mới là cô dâu thật, nếu như con lấy người kia thì con sẽ
có lỗi vô cùng.
Bố mẹ anh nghe rõ đầu đuôi câu chuyện cũng bằng lòng. Tức
thì trong phòng lớn đèn nến lại được thắp sáng trưng, tiếng kèn lại
vang lên, bè bạn, họ hàng được mời ngay trở lại, đám cưới thật được
tổ chức trong bầu không khí vui vẻ, tưng bừng.
Cô dâu kia được giữ lại mấy chiếc áo đẹp coi như của bồi
thường và cô ta cũng hài lòng.
Các em được nghe một câu chuyện về cuộc đời. Những người
hiền hậu, tốt bụng sẽ có hạnh phúc, còn những kẻ có tâm địa xấu xa
sẽ bị trừng phạt.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Ba anh em
Một người có ba con trai, cả cơ nghiệp có một cái nhà. Người
con nào cũng muốn sau này, khi bố mất, nhà sẽ về mình. Ông bố thì
con nào cũng quí, thành ra rất phân vân, không biết tính sao cho
các con vừa lòng. Bán nhà đi thì có tiền chia cho chúng, nhưng là
của hương hỏa nên ông không muốn bán. Sau ông nghĩ được một
kế, bảo các con:
- Chúng mày hãy đi chu du thiên hạ, thử gan thử sức một
phen. Mỗi đứa học lấy một nghề. Đứa nào giỏi nhất, bố cho cái nhà.
Ba người con lấy làm thích lắm. Người con cả muốn trở thành
thợ đóng móng ngựa, người thứ hai muốn làm thợ cạo, còn người
em út muốn làm thầy dạy võ Ba anh em hẹn nhau ngay về, rồi chia
tay ra đi.
Cả ba người đều gặp được thầy giỏi truyền cho biết hết bí quyết
nhà nghề. Người đóng móng ngựa được làm việc cho nhà vua và
nghĩ bụng: "Phen này, chắc nhà không thoát khỏi tay mình". Người
thợ cạo được sửa tóc cho những nhà quyền quí nên chắc mẩm là
được nhà. Anh học võ bị đấm nhiều miếng nhưng vẫn cắn răng
chịu, nghĩ bụng: "Nếu sợ bị đấm thì bao giờ được nhà?".
Đến hẹn, ba anh em trở về nhà. Nhưng chẳng ai biết làm thế
nào để thi thố tài nghệ của mình, bèn ngồi bàn với nhau. Đương lúc
ấy chợt có một chú thỏ băng qua cánh đồng. Anh thợ cạo reo lên:
"May quá, thật là vừa đúng dịp". Anh liền cầm đĩa xà phòng, đánh
bọt, đợi thỏ ta đến gần, anh vừa chạy theo vừa quét xà phòng, cạo
râu thỏ mà không hề làm thỏ xầy da chút nào.
Người bố khen: "Khá lắm! Nếu hai thằng kia không làm được
trò gì hay hơn thế thì cho mày cái nhà".
Một lát sau có một cỗ xe ngựa chạy qua như bay.
Anh đóng móng ngựa nói: "Bố xem tài con nhé!".
Anh liền chạy đuổi theo cỗ xe, tháo bốn móng sắt của một con
ngựa và thay luôn bốn móng mới trong khi ngựa vẫn phi đều.
Người bố lại khen: "Mày giỏi lắm! Mày chẳng kém gì em mày.
Không biết cho đứa nào cái nhà đây!".
Lúc bấy giờ người con út mới nói:
- Thưa bố, bây giờ đến lượt con, bố cho con thử tài.
Vừa lúc ấy trời bắt đầu mưa. Anh ta rút ngay gươm múa kín
trên đầu, người không dính một giọt nước nào. Trời mưa ngày càng
to, anh ta múa càng hăng, áo quần vẫn khô như đứng nơi kín đáo.
Người bố ngạc nhiên quá reo lên:
- Con thật là tài nhất! Thôi con được cái nhà rồi.
Hai anh cũng phục người em út lắm và đồng ý với cha.
Ba anh em rất mực thương nhau nên ở cùng một nhà, mỗi
người làm nghề của mình. Họ tài khéo nên kiếm được nhiều tiền.
Họ sống sung sướng như vậy mãi cho đến lúc tuổi già, một người
ốm chết, hai người kia buồn rầu cũng chết theo. Cả ba anh em vừa
khéo vừa giỏi, lại vừa quí mến lẫn nhau, đều được chôn chung một
mộ.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Vợ chồng người đánh cá
Ngày xưa có hai vợ chồng người đánh cá ở một túp lều cũ kỹ
sát ven biển. Hôm nào người chồng cũng đi câu cá suốt ngày. Một
hôm bác buông câu ngồi hết giờ này đến giờ khác, nhìn mặt nước
trong veo mà chẳng được con cá nào. Thình lình lưỡi câu chìm sâu
xuống tận đáy biển. Người ấy giật lên thì được một con cá đìa to. Cá
nói:
- Ông đánh cá ơi, tôi van ông, xin ông để tôi sống, tôi không
phải là cá đâu, mà là Hoàng tử bị phù phép đấy. Thịt tôi ăn cũng
chẳng ngon lành gì. Xin ông thả tôi xuống nước cho tôi bơi đi.
Người câu cá đáp:
- Chú không cần phải nói nhiều. Cá biết nói thì ta sẵn lòng thả
cho đi ngay.
Bác thả cá xuống nước, cá lặn xuống tận đáy bể, để lại sau một
vệt máu dài.
Người câu cá trở về túp lều cũ kỹ.
Vợ hỏi:
- Thầy nó ơi, hôm nay không câu được gì ư?
- Không, tôi bắt được một con cá đìa, nhưng nó nói rằng nó là
một Hoàng tử bị người ta phù phép nên tôi lại thả nó xuống.
- Thế thầy nó không nói gì ư?
- Không biết xin cái gì!
- Hừ! Cứ ở mãi một túp lều cũ tồi tàn, hôi hám thì khổ quá. Lẽ
ra thầy nó xin nó một chiếc nhà gianh nhỏ mới phải. Thầy nó hãy
chạy ngay đi gọi cá mà xin lấy một chiếc nhà gianh nhỏ, chắc thế
nào cũng được.
- Chà! Quay lại làm quái gì?
- Úi chà! Bắt được nó mà thả nó ra, thì nhất định nó phải cho.
Thầy nó cứ đi ngay đi.
Người đánh cá ngần ngại nhưng lại chẳng muốn trái ý vợ. Lúc
bác tới bể thì thấy nước đục, vừa xanh, vừa vàng. Bác lại gần mặt
nước, gọi:
- Cá đìa yêu quý của tôi ơi, Indêbin vợ tôi nó mong ước một
điều.
Cá bơi lên ngay hỏi:
- Điều ước gì đó?
- À, lúc nãy tôi bắt được chú, vợ tôi nó trách tôi sao không xin
gì chú. Nay nó không muốn ở túp lều cũ kỹ nữa, nó muốn có nhà
gianh.
- Ông cứ về đi, vợ ông có nhà gianh rồi đấy.
Người đánh cá về thì không thấy vợ ở túp lều nữa mà đang
ngồi ở ghế dài trước cửa một ngôi nhà gianh xinh xinh.
Vợ nắm lấy tay chồng nói:
- Mình vào mà xem, bây giờ hơn trước nhiều rồi đấy chứ!
Hai vợ chồng cùng vào trong nhà thì thấy có phòng đợi, phòng
khách, buồng ngủ kê hai giường cho hai vợ chồng. Lại có buồng ăn
và nhà bếp đầy đủ nồi niêu xanh chảo bằng đồng bằng thiếc, sáng
choang. Sau nhà có một cái sân con, gà vịt chạy tung tăng và một
mảnh vườn nhỏ trồng rau và cây ăn quả. Vợ nói:
- Mình xem, thích đấy nhỉ?
- Ừ thích thật đấy, chúng ta ở đây sung sướng lắm rồi.
- Để xem sao đã.
Hai vợ chồng ăn xong đi ngủ. Ơ nhà gianh được mươi mười lăm
ngày, người vợ nói:
- Này mình ơi, thật ra thì nhà, sân và vườn hẹp quá! Cá có thể
cho ta nhà rộng hơn. Tôi thích lâu đài to xây bằng đá kia. Mình đi
xin cá nhé.
Chồng nói:
- Chà! Nhà ở thế này là vừa lắm rồi, cần quái gì ở lâu đài.
- Thì mình cứ xin đi, thế nào cá cũng cho.
- Thôi, mình ạ, cá vừa mới cho nhà này, tôi chẳng đi nữa sợ
quấy rầy cá.
- Thì cứ đi đi nào, chắc cá sẽ vui lòng cho.
Người đánh cá thấy phiền quá không muốn xin, nghĩ bụng:
"Thật quả không biết điều chút nào". Nhưng rồi bác vẫn cứ đi.
Khi đến bờ biển, bác thấy nước màu tím, xanh thẫm, xám, gợn
sóng, nước không xanh và vàng như lần trước, nhưng cũng chưa
đến nỗi động bể. Bác gọi cá và bảo:
- Cá ơi cá, Indebin vợ tôi nó ước mong một điều.
Cá hiện lên hỏi:
- Điều gì thế bác?
Người đánh cá nói, có ý hơi ngượng:
- Nhà tôi muốn có lâu đài bằng đá.
- Bác cứ về đi, bác gái đang đợi bác ở cửa đấy.
Người đánh cá trở về, tưởng lại thấy nhà gianh như cũ. Nhưng
không, nhà gianh đã biến thành một tòa lâu đài bằng đá. Vợ bác
đang đứng trên bậc thềm cao, sắp sửa quay gót đi vào. Vợ nắm tay
chồng, nói:
- Mình vào với tôi.
Hai vợ chồng cùng vào. Trong lâu đài có phòng đợi rộng thênh
thang lát bằng đá cẩm thạch, gia nhân đi lại mở cửa nhộn nhịp.
Tường treo rèm rực rỡ. Phòng nào cũng bày bàn ghế bằng vàng,
trần có treo đèn pha lê, nền giải thảm. Bàn nào cũng bày la liệt
những món ăn ngon cùng rượu quý. Đằng sau lâu đài có sân rộng,
chuồng ngựa, chuồng bò và những cỗ xe lộng lẫy, còn có cả một khu
vườn lớn trồng đủ thứ hoa thơm cỏ lạ và cây ăn quả. Thêm vào đó
lại có một cánh rừng nhỏ dài nửa dặm, đủ các loài vật như hươu
nai, thỏ.
Người vợ hỏi:
- Thế nào, thầy nó, đẹp quá nhỉ!
Chồng nói:
- Đẹp lắm! Giá cứ được như thế này mãi! Bây giờ được ở lâu đài
thì mãn nguyện rồi chứ.
Vợ nói:
- Để rồi xem sao. Ta hãy đi ngủ cái đã.
Rồi hai vợ chồng bèn đi ngủ.
Hôm sau, vợ tỉnh giấc trước. Trời đã sáng bạch. Nằm trên
giường, bác nhìn thấy phong cảnh ruộng đồng đẹp vô cùng. Chồng
vươn vai tỉnh dậy. Vợ lấy khuỷu tay hích chồng bảo:
- Mình ơi, dậy ra cửa sổ mà trông. Ước gì ta được làm vua cả
miền này! Mình hãy đi tìm cá, xin cá cho làm vua đi.
- Làm vua làm gì, tôi không thích đâu.
- Nếu thầy nó chẳng muốn làm vua thì mặc thầy nó, tôi làm nữ
vương vậy. Thầy nó cứ đi tìm cá xin cho tôi làm nữ vương đi.
- Úi chà! Sao nhà nó lại muốn làm nữ vương? Tôi chẳng dám
xin đâu.
- Sao lại không! Thầy nó đi ngay đi, tôi muốn làm nữ vương cơ.
Người chồng thấy vợ muốn làm nữ vương buồn lắm, tự nghĩ:
"Như thế thật quả là không được đúng". Bác trù tính không muốn
đi, nhưng rồi nể vợ lại đi.
Ra đến biển, bác thấy nước xám đen, sôi sục và thối hoăng. Bác
gọi cá bảo:
- Cá ơi cá, Indêben vợ tôi nó ước mong một điều.
- Điều gì?
- Trời ơi! Nó muốn làm nữ vương!
- Bác cứ về đi, bác gái thành nữ vương rồi.
Về đến nhà, bác thấy lâu đài đồ sộ, trang hoàng rực rỡ, có lính
gác cổng, có quân đánh trống thổi kèn.
Vào trong nhà thấy tuyền là đá cẩm thạch và vàng, thảm
nhung, rương vàng. Cửa điện rộng mở, tất cả triều đ´nh đều có mặt.
Vợ bác ngồi trên ngai vàng, đầu đội mũ miện vàng, tay cầm hốt
vàng dát ngọc, mỗi bên có sáu cung nữ sắp hàng đứng hầu, người
nọ thấy hơn người kia một đầu. Bác lại gần nói:
- Ai chà! Nhà đã thành nữ vương rồi đó à?
- Phải, bây giờ tôi đã là nữ vương.
Bác đứng ngắm vợ hồi lâu rồi bảo:
- Này, nhà làm nữ vương thì thỏa thích lắm rồi. Bây giờ hẳn
chẳng còn gì mong ước nữa nhỉ.
Vợ bứt rứt trả lời:
- Không phải thế đâu, tôi chán ngấy rồi. Thầy nó hãy đi tìm cá,
xin cho tôi làm nữ hoàng.
- Chà chà! Sao nhà nó lại muốn làm nữ hoàng?
- Thầy nó cứ nói với cá cho tôi làm nữ hoàng đi.
- Nhà này, tôi không dám xin thế, cá chẳng cho đâu. Làm nữ
hoàng trị vì cả một nước lớn. Cá không thể cho nhà làm nữ hoàng
được đâu, chắc chắn là không được đâu.
- Hừ! Tôi làm nữ vương, thầy nó chẳng qua chỉ là anh chồng tôi
thôi. Nhà có đi ngay không? Nhà đi ngay đi! Cá đã có thể làm cho
nữ vương thì cá có thể cho làm nữ hoàng được. Tôi muốn làm nữ
hoàng cơ mà. Thầy nó phải đi ngay.
Thế là chồng đành phải đi. Bác vừa đi vừa lo ngay ngáy, nghĩ
bụng:" thật quả là không biết điều. Thật là quá đáng. Cá cũng đến
phát chán".
Khi đến bờ biển, bác thấy nước đen ngòm, nổi bọt lên sùng sục,
sóng gió ầm ầm. Bác rét run, gọi cá đến bảo:
- Cá ơi cá, Indêben vợ tôi nó ước mong một điều.
- Lại điều gì nữa?
- Trời ơi, nó muốn làm nữ hoàng.
- Bác cứ về đi, bác gái thành nữ hoàng rồi đấy.
Người đánh cá quay gót trở về. Khi tới nhà thì thấy toàn bộ lâu
đài làm bằng đá cẩm thạch bóng lộn, lại có cả tượng bằng đá trắng,
đồ trang trí bằng vàng. Trước cổng có lính thổi kèn đáng trống. Các
bậc công hầu đứng chầu nhộn nhịp bên trong. Họ mở cổng cho bác
vào, cửa bằng vàng nguyên chất. Bác thấy vợ ngự trên ngai đúc
bằng vàng cao hai thước, đầu đội mũ miện vàng cao hơn ba tấc,
nạm ngọc và kim cương, một tay cầm quả cầu tượng trưng ngôi nữ
hoàng. Hai lính ngự lâm sắp thành hai hàng, từ người khổng lồ cao
hai trượng đến người lùn xíu vừa bằng ngón tay út.
Trước mặt vợ bác, một đám đông vua chúa đứng hầu.
Bác tiến vào giữa đám người đó và bảo vợ:
- Này nhà, bây giờ nhà đã là nữ hoàng rồi nhỉ?
- Phải tôi là nữ hoàng rồi.
Bác đứng ngắm vợ hồi lâu rồi nói:
- Này nhà làm nữ hoàng thích lắm nhỉ.
Vợ nói:
- Thầy nó làm gì mà cứ đứng đực ra đấy? Nay tôi đã được làm
nữ hoàng rồi, nhưng tôi lại muốn làm Giáo hoàng kia. Thầy nó đi
tìm cá đi.
- Chết rồi, nhà đòi thế không được đâu. Khắp thế giới công giáo
chỉ có một vị giáo hoàng thôi, cá không làm được việc ấy đâu.
- Tôi muốn làm Giáo hoàng, thầy nó đi ngay đi. Tôi muốn là
Giáo Hoàng ngay ngày hôm nay.
- Nhà ạ, tôi chẳng dám xin đâu, không thể được đâu! Như thế
quá đáng, cá không thể cho nhà làm Giáo Hoàng đâu.
- Gớm, nói lôi thôi mãi. Cá cho tôi làm nữ hoàng được thì cũng
cho tôi làm Giáo Hoàng được chứ! Thầy nó đi ngay đi. Tôi là nữ
hoàng còn thầy nó là chồng tôi thôi. Thầy nó có chịu đi hay không
thì bảo?
Bác trai sợ phải ra đi, bụng phân vân, người run cầm cập, chân
đi lẩy bẩy. Gió thổi ào ào, mây đen phủ kín khiến bầu trời tối xám.
Lá cây rào rào, sóng vỗ vào bờ ầm ầm. Đằng xa, những con tàu bị
sóng đánh ngả nghiêng phải bắn súng báo động. Giữa trời còn có
một điểm xanh. Nhưng chung quanh mây đã kéo kín đặc, báo hiệu
một trận bão to. Bác lại gần mặt nước, khiếp sợ nói:
- Cá ơi! Tôi đã hết sức can ngăn mà Indêben vợ tôi nó vẫn ước
mong một điều
- Điều gì thế bác?
- Trời ơi, nó muốn làm Giáo hoàng.
- Bác cứ về đi, bác gái làm Giáo hoàng rồi đấy.
Bác về tới nhà thì thấy một nhà thờ rộng mông mênh, chung
quanh san sát những lâu đài. Bác phải rẽ đám đông mới vào được.
Ở trong thắp hàng trăm nghìn đèn nến sáng trưng. Vợ bác phủ
vàng từ đầu đến chân, ngự trên ngai vàng cao hơn ngai vàng trước
nhiều, đầu đội ba cái mũ miện bằng vàng, chung quanh có đông đảo
giáo sĩ. Hai bên có hai hàng nến, cây lớn nhất to và cao như ngọn
tháp lớn, cây bé nhất chỉ bằng cây đền nhà bếp, các vua chúa thì
quỳ xuống hôn giầy bác gái.
Bác ngắm vợ rồi nói:
- Thế là nhà trở thành Giáo hoàng rồi nhỉ?
- Phải tôi đã là Giáo Hoàng rồi.
Bác đứng ngẩn ra ngắm vợ y như nhìn mặt trời. Một lát sau
bác nói:
- Nhà là Giáo hoàng thì thích lắm nhỉ!
Vợ ngồi im như khúc gỗ, chẳng đáp.
Bác lại nói tiếp:
- Nhà này, bây giờ đã được làm Giáo hoàng thì chắc mãn
nguyện rồi, không còn gì hơn nữa mà mong.
- Để xem sao đã.
Rồi vợ chồng đi ngủ. Nhưng vợ không sao ngủ được vì lòng
tham chưa thỏa cứ nghĩ mãi xem có làm gì hơn được nữa không.
Chồng đi cả ngày mệt, ngủ một mạch đến sáng.
Còn vợ thì suốt đêm trằn trọc không sao ngủ nhắm mắt, tưởng
đến cách làm to hơn nữa mà nghĩ không ra. Trời rạng đông, bác
ngồi nhổm dậy trông ra ngoài. Thấy ánh nắng chiếu qua cửa sổ, bác
nghĩ " Ước gì mình sai khiến được mặt trời, mặt trăng mọc". Bác
bèn lấy khuỷu tay hích vào chồng mà nói:
- Thầy nó ơi, dậy đi tìm cá, bảo cá tôi muốn được y như chúa
trời.
Chồng còn đang ngái ngủ nghe vợ nói, giật mình ngã xuống
đất. Bác ngỡ là nghe lầm, dụi mắt, hỏi:
- Nhà vừa nói gì thế?
- Thầy nó ạ, nếu tôi không sai được mặt trời mặt trăng mọc, và
nếu tôi thấy mặt trời mặt trăng mọc mà không theo lệnh tôi thì tôi
không chịu được đâu. Nếu chính tôi không làm cho mặt trời mặt
trăng mọc thì tôi sẽ không lúc nào yên đâu.
Vợ nhìn chồng với một con mắt dữ tợn, khiến chồng lạnh toát
xương sống và nói:
- Thầy nó đi ngay đi, tôi muốn làm Chúa trời.
Chồng quỳ trước mặt vợ, can:
- Nhà ạ, cá không thể làm việc đó đâu. Cá có thể làm cho nhà
làm nữ hoàng, làm Giáo hoàng là cùng. Tôi van nhà, nhà nên biết
điều, cứ làm Giáo hoàng thôi.
Bác gái khùng lên, xõa tóc tung ra, xé áo, đạp chồng thét lên:
- Tôi không chịu nổi nữa, thầy nó phải đi ngay đi!
Chồng vội mặc quần áo, chạy ra đi, như người mất trí.
Bão ầm ầm, bác đi không vững bước. Nhà cửa cây cối rung
động, núi chuyển đá lăn xuống bể. Trời đen tối như mực, sấm vang
chớp nhoáng, bể nổi sóng đen kịt và cao như gác chuông nhà thờ,
như núi, trắng xóa bọt bể.
Bác kêu lên mà cũng không thể nghe thấy tiếng gọi của mình.
- Cá ơi cá, tôi đã ngăn mãi mà Indêben vợ tôi nói cứ ước mong
một điều.
- Điều gì?
- Nó muốn làm Chúa trời.
- Bác về đi sẽ thấy bác gái lại ở túp lều như xưa.
Thế là từ đó hai vợ chồng lại cứ túp lều cũ mãi cho đến ngày
nay.
Vợ bác đánh cá thật tham lam, đúng không nào? Bà ta tham
lam đến nỗi biển cả cũng phải giận giữ. Ban đầu chỉ là những gợn
sóng nhẹ và sau đó dữ dằn dần theo sự đòi hỏi càng lớn dần của bà
vợ.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Đóa hồng
Ngày xưa có một ông vua và một bà hoàng hậu ngày nào cũng
nói: "Ước gì mình có đứa con!" mà mãi vẫn không có.
Một hôm hoàng hậu đang tắm thì có con ếch ở dưới nước nhảy
lên nói:
- Điều bà mong ước bấy lâu sẽ thành sự thực. Hết năm nay bà
sẽ sinh con gái.
Lời ếch tiên tri quả đúng thật. Hoàng hậu sinh con gái đẹp
tuyệt trần. Vua thích lắm, mở hội lớn ăn mừng. Vua mời họ hàng
thân thuộc, bạn bè, lại mời cả các bà mụ đến để họ tận tâm chăm
sóc, thương yêu con mình.
Trong nước có mười ba bà mụ. Nhưng vua chỉ có mười hai cái
đĩa vàng để mời ăn, do đó mời thiếu một bà.
Hội hè linh đình. Lúc tiệc sắp tàn, các bà mụ niệm chú mừng
đứa bé những điều kỳ lạ: bà đầu chúc đức hạnh, bà thứ hai chúc sắc
đẹp, bà thứ ba của cải... cứ như vậy chúc tất cả các điều có thể mơ
ước được ở trần gian. Mười một bà vừa dứt lời chúc tụng thì bỗng bà
mụ thứ mười ba bước vào. Bà muốn trả thù vì không được mời dự
tiệc. Bà xăm xăm bước thẳng vào chẳng thèm nhìn ai, chào ai. Bà
hét lên:
- Công chúa đến năm mười lăm tuổi sẽ bị mũi quay sợi đâm
phải mà chết.
Rồi bà chẳng nói thêm nửa lời, bỏ đi. Mọi người chưa hết kinh
ngạc thì bà thứ mười hai bước lên. Bà tuy chưa niệm chú chúc tụng
nhưng cũng không giải được lời chú độc, mà chỉ làm nhẹ đi được
thôi. Bà nói:
- Công chúa sẽ không chết, chỉ ngủ một giấc dài trăm năm thôi.
Vua muốn tránh cho con khỏi bị nạn ra lệnh cấm kéo sợi trong
cả nước. Tất cả những lời chúc của các bà mụ đều thành sự thực:
công chúa đẹp, đức hạnh, nhã nhặn, thông minh, ai thấy cũng phải
yêu.
Năm ấy, công chúa vừa đúng mười lăm tuổi. Một hôm, vua và
hoàng hậu đi vắng, nàng ở nhà một mình. Nàng đi khắp cung điện
để xem tất cả các buồng, thích đâu tạt vào đó. Sau cùng nàng tới
một lầu cao. Nàng trèo lên chiếc thang xoáy ốc chật hẹp, tới một
cửa nhỏ. Ổ khóa có cắm một chiếc chìa đã gỉ, nàng cầm chìa quay
thì cửa mở tung ra. Trong buồng có một bà già ngồi trên tấm ghế
nhỏ đang chăm chú kéo sợi.
Nàng nói:
- Chào bà. Bà làm gì đấy?
Bà lão gật gù đáp:
- Bà kéo sợi đây.
- Cái gì nhảy nhanh như cắt thế kia hở bà?
Nàng cầm lấy xa định kéo sợi. Vừa sờ đến thì lời chú thực hiện,
nàng bị mũi quay đâm vào tay.
Nàng ngãä ngay xuống giường và ngủ mê mệt. Tất cả cung điện
đều ngủ. Vua và hoàng hậu vừa về, mới bước chân vào buồng đã
nhắm mắt ngủ. Cả triều đình cũng lăn ra ngủ. Ngựa trong chuồng,
chó ngoài sân, bồ câu trên mái nhà, ruồi trên tường, đều ngủ. Cả
ngọn lửa đang chập chờn trên bếp cũng ngủ yên. Thịt quay cũng
ngừng xèo xèo. Bác đầu bếp thấy chú phụ bếp đãng trí đang kéo tóc
chú cũng buông ra ngủ. Gió lặng yên trên cây trước lâu đài, không
một chiếc lá nào rung.
Bụi gai mọc quanh mỗi ngày một rậm, phủ kín cả lâu đài,
không còn thấy gì nữa, cả đến lá cờ trên mái cũng không thấy. Rồi ở
trong miền ấy, nhân dân truyền tụng là có Đóa Hồng xinh đẹp
đương ngủ triền miên. Người ta gọi công chúa là Đóa Hồng. Thỉnh
thoảng các Hoàng tử nghe kể chuyện định chui qua bụi vào lâu đài
nhưng không nổi vì bụi gai như có tay, nắm chặt họ lại khiến họ bị
mắc nghẽn.
Năm tháng trôi qua đã nhiều. Một hôm lại có một Hoàng tử tới
nước này. Chàng nghe một ông lão kể lại là trong tòa lâu đài sau
bụi gai có nàng công chúa tên là Đóa Hồng ngủ triền miên đã được
trăm năm.
Vua, hoàng hậu và cả triều đình cũng đều ngủ cả. Ông lão còn
bảo là theo lời tổ phụ để lại thì đã có nhiều Hoàng tử tìm cách chui
qua bụi rậm nhưng bị mắc lại ở đấy.
Chàng liền bảo:
- Tôi không sợ, tôi muốn chui vào tìm nàng Đóa Hồng xinh đẹp.
Ông lão hết sức can ngăn, chàng nhất định không nghe.
Thời hạn trăm năm đã qua. Đã đến lúc Đóa Hồng tỉnh giấc.
Hoàng tử đến gần bụi gai thì chỉ thấy toàn những đóa hoa to tươi
đẹp tự động giãn lối để chàng khỏi bị thương. Chàng đi rồi thì bụi
cây khép lại. Ở sân lâu đài, chàng thấy ngựa và những con chó lốm
đốm đang nằm ngủ. Chim bồ câu rũ đầu vào cánh đậu trên mái
nhà. Chàng vào cung thì thấy ruồi bậu trên tường ngủ, bác đầu bếp
còn giơ tay như định tóm lấy chú phụ bếp. Còn cô hầu gái thì đương
ngồi làm lông con gà đen. Chàng đi vào cung điện chính thì thấy cả
triều đình đều ngủ. Chàng lại tiếp tục đi. Im lặng như tờ. Có thể
nghe thấy hơi thở của chàng. Sau chàng tới một tòa lầu, mở cửa vào
một phòng nhỏ là nơi Đóa Hồng đang ngủ. Nàng nằm trông đẹp
lộng lẫy. Chàng không rời mắt ra được, quì xuống hôn.
Chàng vừa đụng môi thì Đóa Hồng mở mắt, nhìn chàng trìu
mến. Hai người dắt nhau xuống lầu. Vua, rồi hoàng hậu và cả triều
đình đều tỉnh dậy, giương mắt nhìn nhau. Ngựa ngoài sân đứng lên
quẫy mình; chó săn nhảy lên ngoe nguẩy đuôi; bồ câu trên mái nhà
vươn cổ ngóc đầu nhìn quanh rồi bay qua cánh đồng; ruồi bậu trên
tường lại tiếp tục bò; lửa trong bếp bùng lên, chập chờn và đun thức
ăn, thịt quay lại xèo xèo, bác đầu bếp tát chú phụ bếp một cái bạt
tai làm hắn kêu lên, các cô hầu làm nốt lông gà.
Lễ cưới của Hoàng tử và nàng Đóa Hồng được tổ chức linh
đình. Hai vợ chồng sống suốt đời sung sướng.
Bạch Tuyết được Hoàng Từ đánh thức sau giấc ngủ một trăm
năm. Lời nguyền độc ác của bà mụ thứ mười ba bị hóa giải, nàng
xứng đáng được hưởng hạnh phúc.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét