Ngày xưa có một người đàn ông giàu, vợ chết sớm, chỉ có độc một người
con trai. Đứa con vốn người xấu nết, đần độn, lại là tay chơi bời lêu
lổng không chịu học hành hay làm ăn gì cả.
Thấy con
không lo nối nghiệp nhà, người nhà giàu rất buồn phiền, biết rằng của
cải của mình sẽ có một ngày đội nón ra đi mà thôị Bởi vậy, ông bèn tính
chuyện kiếm cho con một người vợ khôn ngoan đảm đang, để may ra nó sẽ
ngăn chặn tay chồng, bảo vệ một phần nào cơ nghiệp.
Nghĩ vậy, ông cất công đi khắp nơi tìm kiếm, nhưng đi đã nhiều nơi mà vẫn chưa thấy một người nào vừa ý.
Một
hôm, đến một vùng kia, nhân mỏi chân, ông nghỉ lại một gốc đa bên
đường. Ông bỗng thấy ở một cây táo gần đấy có một bọn trẻ đang tranh
nhau trẩy ăn. Một chốc sau, một cô gái tuổi chừng đôi tám, cũng đến trẩy
táọ Ông mới lân la lại gần hỏi xin ăn.
Lúc này,
táo chín đã bị bọn người trước trẩy hết, chỉ còn những quả xanh, nhưng
cô gái cũng cố chọn lấy những quả ương ương đưa cho khách.
Thấy
cô gái tốt bụng, ông ta nghĩ: "Sởi lởi, trời gởi của cho, quăn co, trời
gò của lạị Chỉ có người nào tốt bụng với mọi người mới xứng đáng được
hưởng giàu có sung sướng".
Bởi vậy, ông mới tìm đến
nhà cô gái, giả làm một người lỡ độ đường, xin nghỉ trọ một tốị Và rồi
ông được gia đình cô gái ân cần tiếp đãi.
Để thử
xem cô gái có khôn ngoan không, ông lân la làm quen với nàng. Khi biết
cô sắp đi chợ, ông đưa ra một quan tiền nhờ mua hộ cho mình "một nắm
gió, một bó lửa". Cô gái chẳng nói chẳng rằng, mua về cho ông một cái
quạt và một con dao đánh lửạ Thấy thế, ông thầm khen ngợi, nhưng vẫn
định thử thêm cho biết.
Qua ngày hôm sau, ông dậy
sớm, giở tay nải đưa cho cô mấy bát gạo nếp, nhờ nàng thổi giúp cho mình
một nồi vừa cơm vừa bánh để ăn và đem đi ăn đường. Cô gái không từ
chối, vội lấy gạo ra vo. Trước khi cho vào nồi, nàng bớt lại một ít giã
làm bột vắt bánh rồi hấp luôn vào cơm. Khi nàng bưng ra, ông già lấy làm
vừa ý, cho là con người đó đủ cả đức hạnh, khôn ngoan, đảm đang ít có.
Bèn quyết định trở về sửa soạn lễ hỏi cho con trai làm vợ.
Đứa
con trai của ông từ ngày có vợ lại càng lêu lổng; hắn thường bỏ nhà đi
đánh đàn, đánh đúm với bọn vô lại, làm cho ông hết sức buồn. Và điều làm
ông lo lắng nhất là hắn thỉnh thoảng lại trộm tiền của ông, khi dăm bảy
quan, khi một vài vác, tung vào cuộc đỏ đen. Mặc dù ông đánh đập, mặc
dù vợ hắn khuyên lơn, nhưng hắn chứng nào vẫn tật ấỵ Dần dần ông buồn
phiền thành bệnh. Một hôm, biết mình sắp chết, ông gọi con dâu đến bên
giường dặn nhỏ:
- Này cha đã gần đất xa trờị Chồng
con là một thằng "Phá gia chi tử", cơ nghiệp này chỉ còn một sớm một
chiều mà thôi. Cha rất thương con xấu số. Từ lâu cha làm ăn dành dụm, có
để được một hũ vàng chôn ở sau vườn. Vậy cha cho riêng con hũ vàng đó,
đừng cho chồng con biết. Sau này chồng con có thật sự ăn năn hẵng giúp
cho nó làm lại cuộc đờị
Đứa con trai ông sau khi
người cha qua đời, lại càng chơi bời mặc sức. Vợ hết khuyên lơn đến cầu
khẩn, hắn chẳng những đã không nghe lại còn phũ phàng với vợ. Mỗi lần
thua bạc, hai người lại càng xô xát. Nhiều lần vì vợ cản trở, hắn đánh
đập vợ không tiếc tay và làm nhục nàng trước mặt mọi ngườị Một hôm để
khỏi vướng, hắn viết giấy cho vợ đi lấy chồng khác rồi đuổi nàng ra khỏi
cửa.
Từ đó, hắn phỉ chí tung hoành không một ai
dám cản. Quả như lời đoán của bố hắn, mấy chục mẫu ruộng đều lần lượt
"nướng" vào sòng bạc. Hết ruộng vườn tới nhà ở, chẳng bao lâu tất cả cơ
nghiệp mấy đời lưu truyền lại đều sạch sành sanh. Cuối cùng không một
đồng dính túi, không một nghề cầm tay, hắn đành bỏ làng mạc quê quán, đi
lang thang khắp đầu đường xó chợ, ngửa tay xin ăn qua ngày.
Còn
về người đàn bà sau khi bị chồng đuổi, mới đổi tên, tìm đến trấn thành
mở một ngôi hàng nước. Sau ít lâu, kiếm được một số nhỏ, nàng bắt đầu
buôn hàng tấm. Số vốn của nàng ngày một lớn dần. Một hôm, gặp hai em bé
gái mồ côi đi ăn xin, nàng thương tình đưa về nuôi làm con, coi như ruột
thịt. Cuộc đời dần dần nở hoa trước mắt nàng. Trong một dịp đi tìm kiếm
củi, hai con nàng nhặt được một khúc gỗ mục, về chẻ ra thấy có mấy thoi
vàng. Có vốn lớn lại có tài kinh doanh, nên chẳng bao lâu, nàng trở nên
giàu có, nổi tiếng trong trấn. Tiền bạc tuôn về như nước. Tuy sống sung
sướng nhưng nàng vẫn ở một thân một mình. Thấy nàng giàu có, nhiều kẻ
ngấp nghé muốn "gá nghĩa Châu Trần", nhưng người đàn bà ấy nhất thiết từ
chối mọi lời đường mật. Mặc dù người chồng bạc bẽo và mặc dầu mười lăm
năm xa cách, nàng vẫn không quên được tình xưa nghĩa cũ. Đã nhiều lần
nàng thuê người lần đi các chợ búa phố phường dò hỏi nhưng tin tức của
chồng càng hỏi, càng bặt tăm.
Năm ấy, sau mấy tháng
hạn, lúa khoai chết mòn trên những cánh đồng nứt nẻ. Giá gạo cứ lên vùn
vụt. Ngoài đường, người đi xin ăn kéo từng đoàn. Người đàn bà lúc này
đã là bà chủ hiệụ Bà xin phép quan trên cho mình đem tiền gạo ra phát
chẩn cho kẻ khó. Làm như thế, nàng còn mong một khi thấy yết thị dán
khắp thôn xóm thì chồng mình tất sẽ lần mò về, nếu hắn còn sống. Y như
thế thật, ngày bắt đầu phát, nàng đã thấy bóng dáng của chồng ngồi ở
hàng cuối đội quân lĩnh chẩn. Đúng là hắn. Từ ngày bắt đầu cầm bị gậy
đến nay, hắn vẫn chưa có cách gì để sống khá hơn và đỡ hèn hạ hơn trước.
Bây giờ nghe nói có phát chẩn, hắn vội mò đến đây và ngồi đầu hàng về
phía tả. Thế nhưng khi phát, những người giúp việc cho bà chủ hiệu lại
được lệnh phát từ phía hữu lạị Khi sắp sửa đến lượt hắn thì bọn họ tự
nhiên nói lớn:
- Hôm nay đã hết gạo, mời bà con về đợi đến ngày mai!
Hắn
buồn bực trở ra. Qua ngày sau, hắn cố tìm đến thật sớm, ngồi vào đầu
hàng bên hữụ Nhưng hắn không ngờ, những người phát chẩn hôm nay lại bắt
đầu phát từ phía bên kia. Lúc sắp phát đến hắn thì chúng lại giơ thúng
không lên:
- Hôm nay thế là lại hết gạọ Bà con hãy đợi đến mai.
Hắn
thở than cho số đen đủi, lần trở ra về. Qua hôm sau, lại mò đến thật
sớm. Lần này hắn len vào ngồi đúng chính giữa đội quân lĩnh chẩn. Trong
bụng hắn nghĩ lần nầy thì không để mất phần được. Nhưng đến giờ phát,
hắn không ngờ người nhà của bà chủ hiệu hôm nay lại phát hai đầu phát
lại và cuối cùng người không được gì cả, vẫn lại là hắn. Ba lần hỏng cả
ba, hắn rất ngao ngán, bèn đánh liều tìm đến dinh cơ bà chủ để xin ăn.
Gặp hai đứa con gái nuôi của vợ, hắn ngả nón kêu van hết lờị Ở trong
nhà; người đàn bà nhìn ra biết là chồng, đã do mưu của mình mà đến đây,
bèn sai người hầu ra hỏi, xem hắn có biết làm việc gì không để thuê
mượn. Nghe hỏi thế, hắn vội trả lời:
- Xin ông bẩm
với bà lớn rủ lòng thương, cho tôi được ở hầu bà, rửa bát, quét nhà, mọi
việc tôi đều xin hết sức. Chỉ cho tôi ăn ba miếng là đủ rồi!
Người
nhà trở ra cho hắn biết bà chủ nhận lờị Từ đó, hắn chăm chỉ làm lụng,
cố làm vừa lòng chủ. Nhưng chung quy hắn vẫn không biết chủ chính là vợ
cũ của mình. Về phần người vợ cũng không hề để lộ một tí cho hắn biết,
chỉ dặn hai con và người nhà đối đãi tử tế mà thôi. Sau một thời gian,
thấy hắn chịu khó làm ăn, người đàn bà mừng lắm. Một hôm nàng cho gọi
hắn lên nhà hỏi xem có biết chữ nghĩa gì không! Hắn đáp:
- Tôi lúc nhỏ được đi học có biết ít nhiều.
- Vậy từ mai trở đi, anh không hầu hạ nữa, cho anh ở gian nhà khách dạy đám trẻ học tôi sẽ trả mỗi năm ba mươi quan.
Nghe
nói, hắn tưởng không có gì sung sướng hơn thế nữa, cảm thấy lòng nhân
đức của bà chủ đối với mình bằng trời bằng biển, vội nhận lời ngay. Từ
đó, hắn đóng vai thầy đồ cố sức làm cho chủ tin cậỵ Nhưng người vợ vẫn
thử mãi không thôi.
Một lần, gặp ngày tết, bà chủ sai lấy tiền ra cho kẻ hầu người hạ. Nàng nói:
-
Ta cho mỗi người năm quan, hãy mang đi đánh bạc cho vui, nếu hết sẽ cho
thêm. Thầy đồ ta cũng được năm quan tiền. Nhưng trong khi mọi người đem
tiền nướng vào xóc đĩa, bài mười, thì trái lại, hắn mang nguyên vẹn số
tiền đó về gửi cho chủ. Bà chủ hỏi:
- Tại sao anh không thích đánh bạc? Hắn trả lời:
- Bẩm bà, tôi ngày xưa, vì cờ bạc mà đến nông nỗi nàỵ Cho nên bây giờ buộc chỉ cổ tay thề rằng không đụng đến nó.
Thế
rồi luôn miệng, hắn kể hết cho chủ nghe, từ cuộc đời cũ có ruộng nhiều,
có vợ ngoan như thế nào, rồi bán ruộng đuổi vợ ra sao, cho đến lang
thang đói rách, và ngày nay đã ăn năn hối lỗi v.v... Bà chủ hỏi:
- Anh còn thương vợ nữa không? Hắn rầu rĩ:
- Tôi đã nhiều lần dò tìm mà không thấỵ
-
Nghe anh nói tôi rất thương tình. Vậy tôi cho anh năm quan để anh đi
tìm vợ. Nếu hết tiền mà vẫn chưa thấy, anh cứ về đây, tôi sẽ cho thêm mà
tìm cho ra.
Hắn mừng rỡ vâng vâng, dạ dạ, mang
tiền đi tìm. Nhưng sau ba tháng trở về với bộ mặt thiểu não, hắn cho chủ
biết không hề thấy tung tích đâu cả, chắc là vợ hắn đã chết.
Từ
đấy, vợ thấy chồng chí tình, lại có lòng tu tỉnh, nên rất mừng. Nhưng
nàng vẫn chưa ra mặt vội, chỉ an ủi hắn hãy ở lại đây, may ra sẽ có ngày
hội ngộ.
Một hôm, nhân ngày giỗ cha chồng, bà chủ
nhờ thầy đồ chép bài văn tế. Hắn ta ngạc nhiên và bội phần mừng rỡ khi
thấy bài vị của tổ tiên nhà chủ chính là bài vị tổ tiên mình. Lập tức,
hai vợ chồng ôm nhau khóc lóc. Rồi sau khi cúng xong, họ mời làng xóm và
người nhà ngồi lại kể rõ sự tình. Ai nấy đều cho là một cuộc tái ngộ
hiếm có.
Về sau, hai vợ chồng dựng vợ gả chồng cho
hai con nuôi, giao cửa hiệu lại cho chúng cai quản. Sau đấy, họ dắt nhau
trở về quê hương xưa, chuộc lại vườn tược nhà cửa cũ. Và sau khi đã
sống yên ổn ở quê nhà, vợ mới sai đào hũ vàng bố chồng cho mình ngày xưa
lên. Nàng nói:
- Có vàng chưa chắc đã có hạnh phúc. Cho nên trong những cơn túng thiếu nhất, tôi vẫn không cần đến nó.
Nói
đoạn, đem số vàng ấy cúng cho đền chùa để bố thí cho người nghèọ Từ
đấy, hai vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc. Câu tục ngữ: "Làm trai rửa
bát quét nhà. Vợ gọi thì Dạ bẩm bà tôi đây! " là do chuyện này mà ra.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét