Robert S. HICHENS
Phần 1
(Comment l’amour s’imposa an professeur Guildea)
Những người có đầu óc kém bén nhậy thường tự hỏi rằng làm thế nào mà cha Murchison và giáo sư Frediric Guildea lai có thể là những người bạn thân thiết được. Một người thì lòng tràn đầy tín ngưỡng, còn một người thì hoàn toàn theo thuyết hoài nghi. Trong lòng cha Murchison chỉ có tình thương. Trên chiếc áo lễ dài màu đen của ông, ông nhìn thiên hạ với một sự trìu mến gần như ấu trĩ, và cặp mắt dịu hiền của ông, mặc dù đã hoàn toàn rũ sạch mọi âu lo, có vẻ như lúc nào cũng bận rộn chiêm ngưỡng sự lương hảo hiện hữu trong nhân loại và cảm thấy hân hoan trước những gì được nhìn thấy.
Ngược lại, vị giáo sư có một bộ mặt khắc khổ, sắc bén, tận cùng bằng một chòm râu dê đen, dữ tợn. Cái nhìn của ông linh hoạt, sắc sảo và đầy vẻ khinh mạn, những đường nét bao quanh cái miệng nhỏ có cặp môi mỏng dính của ông trông gần như hiểm ác. Giọng nói của ông thô cục và khô khan, và đôi khi trong những lúc nóng giận của ông, nó vút cao lên thành tiếng the thé. Nó phát ra những tiếng với một sự khô khan sắc bén. Thái độ thường ngày của ông giáo sư là một sự pha trộn tính đa nghi và nhu cầu hiểu biết. Thật không thể nghĩ rằng ở giữa những việc bận rộn của ông còn có thể có một chỗ cho tình thương, dù là tình thương một người, dù là tình thương nhân loại nói chung. Tuy nhiên, ông đã sống một đời trong việc khảo cứu khoa học đã mang lại cho thế giới những lợi ích lớn lao.
Cả hai người đều sống độc thân. Cha Murchison thuộc về một phẩm chức của Anh-Quốc-Giáo nên bị cấm không được lập gia đình. Giáo sư Guildea thì có ý coi thường hầu hết mọi vật và mọi người, nhưng trên hết là các phụ nữ. Hồi trước đây ông đã giữ chức giảng sư ở Birmingham. Nhưng khi danh tiếng của ông lớn lên vì những phát minh của ông thì ông tới cư ngụ tại Luân Đôn. Chính ở đó, trong một buổi diễn thuyết ông thực hiện tại khu Đông, ông đã gặp cha Murchison lần đầu tiên. Họ đã trao đổi với nhau vài câu. Có lẽ sự thông minh sáng chói của vị linh mục đã thu hút được nhà khoa học, người mà lúc bình thường vẫn nhìn giới tăng lữ với đôi chút khinh khi. Cũng có thể là ông đã bị chinh phục bởi sự thành thực trong sáng của người giáo đồ có một lương tri vững chắc này. Khi ông rời khỏi phòng họp, ông đã đột ngột mời ông cha tới gặp ông tại nhà ông ở Công viên Hyde Park. Ông cha, người hiếm khi đi tới khu Tây, ngoại trừ khi đi giảng đạo, đã nhận lời mời.
- Khi nào thì cha tới? Guildea nói.
Ông gấp tờ giấy màu xanh trên đó ông đã viết những lời ghi chú với nét chữ viết nhỏ, rõ ràng. Tiếng sột soạt khô khan của những tờ giấy làm sự hòa điệu với giọng nói rõ ràng và khô khan của ông.
- Vào Chủ nhật, tám ngày sau tôi thuyết giảng buổi chiều ở Saint Sanveur, trong các khu vực của ông - Ông cha nói.
- Tôi không đi nhà thờ.
- Không - ông cha nói, không có mảy may một chút âm sắc của sự kinh ngạc hay trách cứ nào trong giọng nói của ông.
- Sau đó mời cha tới dùng bữa ăn tối.
- Vâng, cám ơn.
- Vào mấy giờ thì cha sẽ tới?
Ông cha mỉm cười.
- Sau khi tôi đã chấm dứt bài giảng. Buổi lễ vào sáu giờ rưỡi.
- Vây là độ tám giờ, tôi nghĩ vậy. Xin cha đừng giảng quá lâu. Tôi ở số 100, công viên Hyde Park. Chào tạm biệt.
Ông buộc quanh những tờ giấy của ông một sợi dây thun, và rảo bước đi khỏi, không bắt tay vị linh mục.
Vào ngày Chủ nhật đã ước định, cha Murchison thuyết giảng trước một đám đông đặc nghẹt những tín đồ ở Saint Sanveur. Đề luận bài giảng của ông là cảm tình và sự vô dụng tương đối của con người trên hành tinh, nếu con người đó không học được cách yêu thương đồng loại của mình như chính mình vậy. Bài giảng có phần dài dòng và khi mặc một cái áo lót bông màu đen rộng thùng thình, đội một cái mũ tròn và cứng có những cái vành dẹp, từ trên chóp mũ lủng lẳng những đầu của một sợi dây tơ đen, nhà truyền giáo đi về phía nhà của ông giáo sư, thì những cây kim trên mặt dạ quang của cái đồng hồ ở Marble Arch đã chỉ tám giờ hai mươi nhăm phút.
Ông cha rảo bước, mở một lối đi xuyên qua đám đông ồn ào, những người lính đứng bất động, những người đàn bà đang nói ba hoa và những đứa trẻ lang thang mặc quần áo ngày lễ cười nói om sòm. Đó là một buổi tối ấm áp của tháng Tư, và khi ông đi tới số nhà 100 ở Công viên Hyde Park thì ông đã thấy vị giáo sư để đầu trần, đứng trên bậc cửa nhìn về phía hàng rào song sắt của công viên và thích thú với không khí ấm áp và ẩm ướt, ở cuối cái hành lang có đèn sáng rực.
- A! bài giảng lâu quá! Ông nói lớn. Mời cha vào.
- Vâng, tôi cũng sợ như vậy - ông cha nói, vui vẻ theo lời mời. Tôi là một trong những kẻ nguy hiểm đó, một thầy giảng hay nói ứng khẩu.
- Khi ta có thể nói mà không cần những lời ghi chép mới thú vị hơn chứ. Xin cha hãy quặc mũ và áo khoác ngoài lên - không áo nhà tu của cha - ở đây. Chúng ta sẽ ăn buổi tối ngay tức thì. Đây là phòng ăn.
Ông mở một cái cửa phía bên phải và họ đi vào một căn phòng dài, hẹp, được trải một lớp giấy màu vàng, với một cái trần màu đen từ đó lủng lẳng một ngọn đèn điện với một cái chụp đèn màu vàng. Trong căn phòng có kê một cái bàn hình bầu dục trên đó người ta đã đặt sẵn hai bộ đồ để dùng trong bữa ăn. Ông giáo sư bấm chuông. Rồi ông nói.
- Hình như người ta nói năng thoải mái xung quanh một cái bàn hình bầu dục hơn là xung quanh một cái bàn vuông.
- Thật à ? Ông nghĩ thế à?
- Phải, tôi đã có hai lần mời cùng một người khách, một lần ngồi ở cái bàn vuông, một lần ở cái bàn hình bầu dục. Bữa ăn thứ nhất thật buồn nản, bữa thứ hai thật rạng rỡ. Xin mời cha ngồi xuống.
- Ông giải thích sự khác biệt đó ra sao? Ông cha nói, trong lúc ngồi xuống và thận trọng vén cái vạt áo nhà tu dưới chân ông.
- Hừ! Tôi biết là chính cha sẽ giải thích điểm này thế nào rồi.
- A! Phải. Vậy thì như thế nào?
- Ở một cái bàn hình bầu dục, vì không có các góc cạnh nên sợi dây đồng cảm của con người, luồng điện được liên lạc nhiều hơn. Xin phép cho tôi múc món súp cho cha.
- Cám ơn.
Ông cha chìa cái đĩa của ông ra, và khi làm cử chỉ đó, ông quay về phía người chủ nhà một cái nhìn rạng rỡ của đôi mắt màu xanh của ông. Rồi ông mỉm cười.
- Rồi sao nữa - ông nói với giọng cao nhẹ êm ái của ông - Ông có đôi khi đi nhà thờ không?
- Chiều nay, lần đầu tiên từ nhiều thế kỷ và hẳn cha đã biết rõ, tôi đã thấy bực bội một cách khủng khiếp.
Ông cha vẫn mỉm cười, và cặp mắt xanh của ông long lanh một cách duyên dáng.
- A! thật thế! - ông nói - Thật là uổng quá!
- Những bài giảng không dính dáng gì tới chuyện này. Guildea nói thêm. Đó không phải là một sự khen ngợi. Tôi nói lên một sự việc. Bài giảng đã không làm tôi bực bội. Nếu không, tôi đã nói ra điều này, hoặc là tôi sẽ nín thinh.
- Và trong hai phe đó thì ông đứng về phe nào?
Vị giáo sư mỉm cười với một vẻ gần như vui thích.
- Tôi không biết - ông nói. Cha uống rượu gì?
- Không uống rượu gì cả, xin cảm ơn ông. Tôi là người chống rượu. Trong nghề nghiệp và môi trường của tôi, đó là điều thiết yếu. Vâng, tôi sẽ uống một chút nước Sellz. Tôi tin rằng ông sẽ chọn phe thứ nhất.
- Rất có thể, và hẳn là đã chọn một cách sai lầm. Việc đó sẽ không làm cha quá xúc cảm.
- Không, tôi không tin.
Họ đã trở thành thân mật. Ông cha rất thoải mái dưới tấm trần nhà màu đen. Ông uống một chút nước Seltz và có vẻ thích thú nó hơn là vị giáo sư với rượu bordeaux của ông.
- Tôi thấy rõ, ông đã mỉm cười về cái thuyết sợi dây đồng cảm của con người này - ông cha nói. Vậy thì ông giải thích thế nào về sự thất bại của bữa ăn ở bàn vuông với các cạnh góc của ông, và sự thành công của bữa ăn ở bàn hình bầu dục, không có cạnh góc của ông?
- Có thể do sự kiện là vào dịp thứ nhất linh hồn tươi đẹp của cái bàn bị đau gan sau một cơn cảm lạnh, khi trong bữa ăn thứ hai thì nó hoàn toàn khỏe mạnh. Tuy nhiên, như cha đã thấy đó, tôi đã chọn cái bàn hình bầu dục.
- Điều này có nghĩa là...
- Không có gì quan trọng đâu. À, chiều hôm nay cha đã không đả động tới vai trò đáng kể của lá gan trong cảm tính. Đó là một khiếm khuyết nghiêm trọng.
- Trong đời sống của ông đã có một khiếm khuyết còn trầm trọng hơn nữa đó: sự thiếu vắng tất cả lòng ham thích, sự đồng cảm mật thiết của con người.
- Từ đâu mà cha có sự tin chắc rằng tôi không cảm nhận được lòng ham thích này?
- Tôi đoán ra việc đó. Ngôn ngữ của ông, thái độ của ông nói cho tôi biết rằng sự việc là như thế. Ông đã không tán thành bài giảng của tôi trong suốt thời gian tôi thuyết giảng, đúng thế phải không ?
- Một phần của thời gian đó.
Tên người hầu thay những cái đĩa. Đó là một người đàn ông đứng tuổi, tóc vàng hoe, gầy còm, với bộ mặt trắng, cương nghị, cặp mắt sáng, lồi ra, và một phong cách không chê trách được trong việc hầu hạ. Khi hắn ra khỏi, ông giáo sư nói tiếp.
- Những nhận xét của cha làm tôi thích thú, nhưng tôi đã xét thấy chúng là quá đáng.
- Thí dụ như thế nào?
- Xin cho phép tôi nói như một người ích kỷ trong chốc lát. Một phần lớn thời gian của tôi được dùng để làm việc vất vả, rất vất vả. Cha sẽ đồng ý về điều đó, nhân loại thủ lợi về các kết quả của sự làm việc này.
- Khá nhiều - ông cha công nhận trong khi nghĩ tới hơn một sự phát minh của Guildea.
- Và đối với nhân loại sự lợi ích do kết quả của công việc được thực hiện chỉ vì chính nhân loại cũng lớn lao như thể tôi đã hoàn tất nó vì tình thương các đồng loại của tôi, và nếu do tình cảm tôi muốn được thấy họ hưởng nhiều hạnh phúc hơn là họ đang có hiện nay. Tôi cũng rất hữu ích trong cương vị này của tôi... trong sự thiếu vắng cảm tính... cũng như nếu tôi vung vãi những sự biểu lộ giống như những nhà tình cảm chủ nghĩa là những người muốn thả các tên sát nhân ra khỏi nhà tù, hoặc như Tolstoi muốn bênh vực bạo quyền bằng cách phản đối sự trừng phạt những tên bạo chúa.
- Người ta có thể làm rất nhiều điều ác với cảm tính và rất nhiều điều thiện khi không có nó. Phải, thật vậy. Tôi vẫn biết rằng động lực tối thân tự thân nó không đủ. Tuy nhiên, tôi chủ trương rằng với với tài ba của ông, ông sẽ còn hữu ích hơn rất nhiều cho thế giới này nếu thay vì trong những tâm trạng này, ông cảm ứng được sự đồng cảm, lòng yêu thương đối với nhân loại. Tôi còn nghĩ cả tới điều là các công trình của ông sẽ chỉ huy hoàng hơn thôi.
Ông giáo sư tự rót cho mình một cốc bordeaux nữa.
- Cha đã để ý tới người đầu bếp của tôi phải không? Ông nói.
- Phải.
- Đó là một người đầy tớ hoàn hảo. Hắn ta săn sóc các tiện nghi của tôi một cách không chê trách được. Tuy nhiên, ở hắn ta không có một mảy may tình cảm đối với tôi. Tôi đối xử lễ độ với hắn ta. Tôi trả lương hắn ta hậu hĩnh nhưng không bao giờ tôi nghĩ tới hắn ta, và không bao giờ tôi bận tâm tới hắn ta trong tư cách một con người. Tôi không biết chút gì về tính tình của hắn ta ngoài những điều mà tôi đã đọc trong tờ chứng chỉ của người chủ cuối cùng của hắn ta. Hẳn cha sẽ nói là không có một chút liên hệ nhân bản thật sự nào giữa chúng tôi. Hẳn cha sẽ cho rằng công việc của hắn ta sẽ được làm tốt hơn nếu tôi làm cho bản thân tôi được yêu quí, như một người ở bất cứ một đẳng cấp nào có thể yêu mến một người của bất cứ loại đẳng cấp nào khác phải không?
- Chắc chắn là thế.
- Tôi cho rằng hắn ta sẽ không thể làm công việc của mình tốt hơn là hắn ta đang làm hiện nay.
- Nhưng nếu xẩy ra một tai biến?
- Tai biến gì?
- Một tai biến nào đó, một sự thay đổi trong tình trạng của ông. Nếu ông cần tới sự giúp đỡ của hắn ta, không còn là với tư cách con người và anh đầu bếp, nhưng với tư cách con người và huynh đệ thì sao? Rất có thể là hắn ta sẽ không đáp ứng sự mong đợi của ông. Sẽ không bao giờ ông nhận được từ người đầy tớ của ông một sự phục vụ có phẩm chất cao mà động lực chỉ có thể là một tình cảm chung thủy.
- Cha nói xong chưa?
- Xong hết rồi.
- Vậy thì ta hãy lên trên lầu. Vâng, đây là những bức khắc chạm đẹp. Tôi đã tìm thấy chúng ở Birmingham khi tôi cư ngụ tại đó. Đây là phòng làm việc của tôi.
Họ đi tới một căn phòng đôi, hoàn toàn bị phủ kín bởi những quyển sách và được thắp sáng bằng điện mà cường độ gần như thái quá. Các cửa một phía nhìn công viên và phía kia thì nhìn xuống khu vườn của nhà hàng xóm. Cửa lớn mà họ đi vào thì từ phần thụt vào sâu nhất của căn phòng ta không thể nhìn thấy, phòng này cũng là gian nhỏ hơn, nó được che khuất bởi chỗ nhô ra của bức tường phòng thứ nhất. Trong phòng này có một cái bàn làm việc chất đầy những thư từ, những tập sách mỏng và những bản thảo viết tay. Ở giữa hai khung cửa sổ chỗ cuối phòng có một cái chuồng trong đó một con két lớn màu xám đang leo trèo, nó dùng cái mỏ và hai chân trong những bước leo cao chậm chạp và trầm mặc.
- Ông cũng có một người bạn - ông cha nói với vẻ kinh ngạc.
- Tôi có một con két - vị giáo sư trả lời bằng một giọng khô khan. Tôi đã mua nó với một mục đích rõ ràng khi tôi nghiên cứu về các khả năng bắt chước của loài chim, và tôi đã không bao giờ rũ bỏ được nó. Một điếu xì gà nhé?
- Cám ơn.
Họ cùng ngồi xuống. Cha Murchison liếc mắt nhìn con két. Nó đã dừng lại trong sự di chuyển của nó, hai chân bám vào các then sắt của cái chuồng. Nó ngắm nghía họ với những con mắt tròn xoe và chăm chú có vẻ tràn đầy sự suy tưởng và trí khôn, nhưng hoàn toàn không có một chút cảm tình nào. Sau đó ông quay lại nhìn về phía Guildea đang hút thuốc, đầu ngả về đằng sau, với cái cằm nhọn và bộ râu đen thưa thớt mọc lởm chởm vểnh lên vì lối ngồi đó. Ông mấp máy môi dưới một cách mau lẹ theo chiều đứng thẳng, điều này làm bộ râu rung động, và làm cho ông có một vẻ hung dữ khác thường. Bỗng nhiên ông cha bật lên một tiếng cười nhỏ.
- Tại sao? Guildea hỏi lớn tiếng. Ông ta để cho cằm hạ xuống, và ném cho vị khách một cái nhìn kém nhã nhặn.
- Tôi nghĩ rằng cần phải có một tai biến thật lớn lao để ông tìm tới sự hỗ trợ trong lòng cảm mến của người đầu bếp của ông.
Đến lượt Guildea mỉm cười.
- Cha nói đúng đó. Thực sự. Hắn ta đến kìa.
Người đầu bếp đi vào, mang cà phê tới, rồi lui ra như một cái bóng qua khỏi trên một bức tường.
- Đó là một người kỳ diệu, không có tính người. Guildea nói.
- Tôi ưa thích thằng nhỏ bụi đời ở khu Đông là đứa làm việc vặt cho tôi ở Báo Street. Ông cha nói. Tôi biết hết mọi chuyện buồn phiền của nó, nó cũng biết một vài chuyện buồn phiền của tôi, nó ít trầm lặng hơn là anh đầy tớ của ông. Ngay cả, có lúc nó còn thở phì phò khi nó quá bận rộn, nhưng đôi khi nó còn làm cho tôi nhiều hơn là việc cho than vào vỉ lò hoặc đánh xi những đôi giày mũi vuông của tôi.
- Mọi người đều khác nhau. Sự chăm chú quá đỗi của một cái nhìn trìu mến làm tôi khó chịu.
- Nhưng con chim này thì thế nào?
Ông cha lấy ngón tay chỉ vào con két. Nó đã leo lên cái cần đậu của nó, một bàn chân co lên, trong một thái độ uy nghi làm nẩy sinh một điều tốt lành, và mắt nó không rời khỏi vị giáo sư.
- Đó là cái nhìn chăm chú của sự bắt chước, nó che giấu một ẩn ý: sự mong muốn tái tạo những vẻ đặc thù của người khác. Không, chiều hôm nay tôi đã biết mùi vị của sự dịu dàng, óc thông minh trong bài giảng của cha, nhưng tôi không cầu mong sự cảm mến. Chắc chắn là ta có thể mong muốn một tình cảm vừa phải... (Ông giật mạnh bộ râu, như thể muốn đề phòng chống lại tình cảm) nhưng tất cả sự cảm mến mãnh liệt hơn đều làm bực bội và sẽ đẩy tôi tới sự tàn bạo, tôi biết chắc điều này. Và nó còn làm trở ngại công việc của tôi.
- Tôi không tin vậy.
- Phải, cái loại công việc của tôi. Tôi sẽ tiếp tục mang lại những lợi ích cho một người, mà không yêu họ, và họ sẽ tiếp tục chấp nhận các lợi ích này, mà không yêu tôi. Và đúng là như thế.
Ông uống tách cà phê của ông. Rồi với một giọng có vẻ hung hăng ông nói thêm.
- Tôi không có thì giờ rảnh rỗi, mà cũng không có khuynh hướng dành cho tình cảm.
Khi Guildea cùng đi với cha Murchison, ông đi theo ông cha tới tận bậc cửa lớn, và đứng ở đó một lát. Ông cha nhìn sang công viên ở phía bên kia lòng đường ẩm ướt.
- Tôi thấy là ông có một lối vào đúng ngay trước mặt nhà mình - ông nói một cách lơ đãng.
- Vâng, tôi thường bước qua lối vào đó và đi dạo chơi một lúc để làm tươi mát các ý nghĩ của tôi. Xin chúc cha ngủ ngon. Mời cha tới chơi vào một ngày khác.
- Rất hân hạnh. Chúc ngủ ngon.
Vị linh mục rảo bước đi khỏi, để lại Guildea đứng trên bậc cửa.
Cha Murchison thường trở lại số nhà 100 ở Quảng trường Hide Park. Ông có cảm tình với hầu hết những người đàn ông và đàn bà mà ông quen biết. Và sự trìu mến với tất cả mọi người, dù quen hay lạ, nhưng lại nuôi dưỡng một tình cảm đặc biệt với Guildea. Và đây là một điều khá kỳ cục, vì nó là một tình cảm của lòng thương xót. Ông ái ngại cho con người lao động hăng say này, người đã thành công một cách đáng cảm phục, người có một trí thông minh vĩ đại, một tấm lòng dũng cảm, không bao giờ tỏ ra chán nản, người không bao giờ cần tới sự giúp đỡ, không bao giờ ta thán về về hững sự phiền toái của cuộc sống, và luôn luôn đi thẳng trước cuộc sống, không bao giờ ngần ngại. Ông cha thực sự ái ngại cho Guildea vì ông ấy đã tỏ ra rất khó tính. Ông đã nói điều này với ông ấy, vì ngay từ lúc khởi đầu sự giao thiệp giữa hai người đã có một sự thành thực hiếm có.
Một buổi chiều nọ, khi họ trò chuyện với nhau, ông cha nói tới một trong những sự kỳ cục của cuộc sống: sự việc là những người không ham muốn của cải lại thường thường kiếm được của cải trong khi những kẻ mưu cầu của cải với sự đam mê thì lại thất bại trong việc đi tìm của cải.
- Trong trường hợp này thì vô vàn tình thương mến sẽ phải trút lên người tôi. Guildea nói với một nụ cười chua chát, vì tôi chán ghét tình thương mến.
- Có lẽ một ngày nào đó nó sẽ như vậy.
- Một cách rất thành thực tôi hy vọng rằng sẽ là không.
Cha Murchison im lặng một lúc. Ông xiết chặt thêm hai đầu của cái thắt lưng lớn buộc quanh áo dài lễ của ông. Khi ông nói, có vẻ như ông đang trả lời một người nào đó.
- Phải, ông nói một cách chậm chạp, phải, đó đúng là điều mà tôi oán hận: lòng thương xót.
- Tại sao? Ông giáo sư nói.
Rồi bỗng nhiên ông hiểu. Ông không nói là ông đã hiểu, nhưng cha Murchison cảm thấy, và nhìn thấy thật là hoàn toàn vô ích khi trả lời câu hỏi của người bạn ông, một cách khá kỳ quặc, cứ như thể Guildea tự thấy mình bị ràng buộc rất chặt với một người vốn là trái ngược với ông về mọi mặt và đã cảm thấy thương hại ông.
Sự việc Guildea không tỏ ý hoài nghi và gần như không bao giờ nghĩ tới điều này, có lẽ cũng chứng tỏ một cách rõ ràng sự thờ ơ hy hữu trong bản chất của ông.
Phần 2
Một buổi chiều mùa thu, một năm rưỡi sau lần gặp gỡ đầu tiên của cha Murchison và vị giáo sư, ông cha tới công viên Hyde Park và hỏi anh đầu bếp tóc vàng hoe và tính nết khô khan (anh ta tên là Pitting) xem ông chủ của anh ta có nhà không.
- Thưa cha, có - Pitting trả lời - Mời cha đi theo tôi có được không?
Không gây một tiếng động nào, anh ta đi trước ông cha trong cầu thang góc khá chật hẹp, nhẹ nhàng mở cánh cửa của phòng đọc sách, và với một giọng dịu dàng và lạnh lùng, thông báo:
- Cha Murchison.
Guildea đang ngồi trong một cái ghế bành, trước một ngọn lửa nhỏ, những bàn tay gầy guộc có những ngón tay dài thon duỗi ra trên đầu gối, đầu ông gục xuống ngực, ông có vẻ đang đắm chìm trong các ý nghĩ của ông. Pitting hắng cao giọng một cách nhẹ nhàng.
- Cha Murchison muốn gặp ông, thưa ông. Anh ta nhắc lại.
Ông giáo sư giật nẩy người lên và vội vã quay lại giữa lúc ông cha bước vào.
- A, ông nói, cha đấy à? Tôi rất hài lòng được gặp cha. Mời cha tới gần lò sưởi.
Ông cha ném cho ông một cái nhìn mau lẹ, và thấy ông có một vẻ mệt mỏi khác thường.
- Chiều nay ông có vẻ không khỏe đó, ông cha nói.
- Không đâu!
- Chắc ông đã làm việc quá nhiều. Có phải buổi diễn thuyết mà ông phải hực hiện ở Paris đã làm cho ông bị bệnh không?
- Hoàn toàn không phải, nó đã sẵn sàng rồi. Tôi sẽ có thể đọc cho cha nghe ngay tức thì từng chữ một, mời cha ngồi xuống đây.
Ông cha vâng lời và Guildea lại ngồi phịch xuống cái ghế bành, mắt đăm đăm nhìn vào ánh lửa, không nói một lời nào. Ông có vẻ đang suy nghĩ miên man. Người bạn ông không muốn làm đứt đoạn sự suy tưởng của ông, nhưng lặng lẽ châm lửa vào ống vố của mình, và bắt đầu hút với vẻ mơ màng. Cặp mắt của Guildea không rời khỏi ánh lửa. Ông cha đảo mắt nhìn quanh phòng, những bức tường được phủ đầy những cuốn sách đóng bìa thường, cái bàn bừa bộn, những cửa sổ có những tấm màn nặng trĩu bằng gấm thêu cũ màu xanh đậm, và nhìn vào cái chuồn kê ở giữa hai cửa sổ. Một cái chăn dạ màu xanh phủ lên cái chuồng. Ông cha tự hỏi tại sao lại phủ như vậy. Chưa bao giờ ông nhìn thấy Napoléon (đó là tên của con két) bị che kín như thế vào những buổi chiều trước đây. Khi ông đang nhìn tấm dạ màu xanh thì Guildea bỗng giật nẩy người và ngẩng đầu lên, nhấc hai bàn tay ra khỏi đầu gối, ông chắp chúng lại với nhau và bỗng nhiên nói.
- Cha có thấy tôi là một người có sức quyến rũ không?
Cha Murchison giật nẩy người lên. Một câu hỏi loại này, xuất phát từ một người như thế này làm ông sửng sốt.
- Chao ôi! Ông kêu lên - Cái gì làm cho ông đặt ra câu hỏi đó? Ông muốn nói có sức quyến rũ đối với nữ giới phải không?
- Đó là điều mà tôi không biết, ông giáo sư nó, nét mặt u buồn và lại trầm ngâm nhìn vào ngọn lửa. Đó là điều mà tôi không biết!
Sự kinh ngạc của ông cha càng tăng thêm.
- Ông không biết điều đó à? Ông cha nói lớn.
Ông đặt cái ống vố xuống.
- Này, cha có tin rằng tôi có một sức quyến rũ, rằng có một cái gì đó trong tôi có thể lôi cuốn về phía tôi một cách không thể cưỡng lại được, một con người hay một con vật không?
- Bất kể ông có thích hay không?
- Đúng vậy, hoặc ta có thể nói một cách rõ ràng hơn: ngay cả khi tôi không muốn điều đó phải không?
Ông cha mím cặp môi đỏ hồng khá mập mạp của ông, làm lộ ra nhiều vết nhăn nhỏ ở góc cặp mắt xanh của ông.
- Dĩ nhiên điều đó không phải là không thể có, sau đó một lát ông nói. Bản chất con người là yếu đuối, một sự yếu đuối có tính hấp dẫn Guildea ạ, và ông có ý thích nhạo báng nó. Tôi hiểu rằng có những phụ nữ thuộc một loại nào đó, các phụ nữ trí thức, những người làm việc sưu tập các danh nhân, muốn cầu thân với ông. Sự nổi tiếng của ông, tên tuổi vang lừng của ông...
- Phải, phải. Guildea cắt ngang, không khỏi có sự bực bội. Tôi biết tất cả những điều đó, tôi biết.
Ông vặn vẹo những ngón tay dài của ông, để chìa lòng bàn tay ra phía bên ngoài, vặn mạnh đến nỗi làm các ngón tay ông kêu lách cách. Một cái cau mày làm trán ông nhăn lại.
- Tôi tưởng tượng - ông nói... (ông ngừng lại và ho một cái ho khô khan, gần như dữ dội) - Tôi tưởng tượng rằng thật rất khó chịu khi mà một vật gì ta không thích lại yêu mến ta, cứ lẽo đẽo theo ta, có phải đó đúng là điều mà người ta nói không?"
Ông xoay người một nửa vòng trong ghế bành, bắt chéo hai chân lại và dán mắt vào vị khách với một cái nhìn dò hỏi, gần như soi mói.
- Một vật gì à? Ông cha nói.
- Đúng, đúng, một người nào đó. Tôi tưởng tượng rằng không thể còn thứ gì là khó chịu hơn thế.
- Với ông thì không, ông cha trả lời, nhưng tôi xin lỗi ông, ông Guildea. Tôi không thể nghĩ rằng ông lại chấp thuận một sự xâm nhập như thế. Ông không khích lệ sự nịnh bợ mà.
Guildea lắc đầu với một vẻ ảm đạm.
- Không, ông nói đúng. Quả thật đúng là điều đó. Đó là một sự kỳ cục trong vụ này. Số là tôi...
Ông cắt ngang câu chuyện một cách có chủ ỷ, đứng lên và vươn vai.
- Tôi cũng phải đi hút một cối thuốc - ông nói.
Ông đi tới tận lò sưởi, cầm lấy ống vố của ông, cho thuốc vào và châm lửa. Khi ông đưa cây diêm tới gần mồi thuốc lá, cái nhìn của ông dừng lại trên tấm vải xanh che phủ cái chuồng của con Napoléon. Ông ném que diêm vào lửa, kéo một vài hơi thuốc trong khi tiến tới chỗ cái chuồng. Khi tới bên cái chuồng, ông cầm lấy tấm vải và bắt đầu kéo nó ra. Rồi thình lình ông để nó lại chỗ cũ, vẻ giận dữ.
- Không, ông nói, như thể nói với riêng ông, không.
Ông vội vã trở lại chỗ lò sưởi và buông phịch người xuống cái ghế bành của ông.
- Cha đã tự đặt cho mình nhiều câu hỏi - ông nói với cha Murchison - tôi cũng vậy. Tôi hoàn toàn không biết nghĩ ra sao về việc này. Tôi sẽ trình bày kỹ càng các sự việc với cha, và cha phải cho tôi biết ý kiến của cha. Chiều ngày hôm kia, sau một ngày làm việc cực nhọc, tuy cũng không cực nhọc hơn thường lệ, tôi đi ra chỗ cửa ra vào để hít thở một chút. Cha cũng biết rằng việc đó thường xảy ra với tôi.
- Phải tôi đã thấy ông đứng trên bậc cửa lần đầu tiên tôi tới đây.
- Đúng thế. Tôi đã không đội mũ, cũng không mặc áo choàng. Tôi đứng trên ngưỡng cửa. Tôi nhớ lại là đầu óc tôi, hãy còn đầy ắp công việc của tôi. Tối hôm đó trời có vẻ tối tăm hơn, nhưng không phải hoàn toàn tối tăm. Lúc đó vào khoảng gần mười một giờ, mười một giờ mười lăm phút. Tôi nhìn sang công viên và đột nhiên tôi nhận thấy cái nhìn của tôi hướng về phía một người nào đó đang ngồi trên một trong những chiếc ghế dài, quay lưng lại phía tôi. Tôi trông thấy người đó, nếu đó là một người, qua hàng rào song sắt.
- Nếu đó là một người? - Ông cha nói - Ông muốn nói gì về chuyện đó?
- Xin hãy đợi một chút. Tôi nói điều đó vì trời tối quá nên tôi không biết chắc chắn được. Tôi chỉ nhìn thấy trên chiếc ghế dài một hình thù mơ hồ đen mờ mờ mà tôi thoáng trông thấy bên trên chỗ dựa lưng của cái ghế. Tôi đã không thể nói đó là một người đàn ông, một người đàn bà hay một đứa trẻ nhỏ. Nhưng đúng là đã có một vật gì đó, và tôi đã kinh ngạc khi nhìn nó.
- Tôi hiểu.
- Dần dà tôi phát hiện ra rằng những ý nghĩ của tôi đã gắn chặt vào vật này hoặc người này. Thoạt tiên tôi tự hỏi người này làm gì ở đó, rồi những ý nghĩ của hắn ta ra sao, sau hết hình dạng hắn thế nào.
- Một gã lang thang nghèo khổ nào đó, tôi giả thiết. Ông cha nói.
- Đó chính là điều mà tôi tự nói với mình. Tuy nhiên tôi cảm thấy là tôi đã có một sự quan tâm khác thường đối với kẻ này, một sự quan tâm quá lớn khiến tôi cầm lấy cái mũ và đi qua đường để vào trong công viên, như cha đã biết, có một lối vào gần như ở ngay trước mặt căn nhà của tôi. Thưa cha Murchison, thế là tôi băng qua đường, bước qua cái cửa, tiến lại gần cái ghế, và phát hiện ra là... không có ai ngồi trên ghế.
- Trong khi đi ông có luôn luôn để mắt vào mục tiêu của ông không?
- Một phần thời giờ, nhưng tôi đã đảo mắt đi chỗ khác ngay đúng lúc tôi bước qua cái cửa, vì một cuộc ẩu đả đã xảy ra cách nơi đó một quãng. Khi tôi nhận thấy cái ghế trống không, tôi cảm thay bị tràn ngập bởi một cảm giác thất vọng, gần như giận dữ, thật hoàn toàn kỳ cục. Tôi đứng lại nhìn quanh mình xem có thấy một vật nào chuồn đi không, nhưng uổng công. Trời đêm lạnh lẽo và đầy sương mù, và hầu như không có một người nào ở bên ngoài cả. Với cái cảm giác thất vọng mà tôi cho là xuẩn ngốc và không bình thường này tôi quay bước trở lại hướng về căn nhà của tôi. Khi tôi về tới nhà, tôi mới phát hiện ra là trong thời gian vắng mặt ngắn ngủi của tôi, tôi đã để cửa ra vào mở ngỏ, nói một cách chính xác hơn là hé mở.
- Ở Luân Đôn như thế là không được khôn ngoan lắm.
- Phải, tất nhiên là tôi đã không biết gì cả về chuyện này cho tới lúc tôi trở về. Tuy nhiên tôi đã chỉ vắng mặt khoảng trong ba phút thôi.
- Phải, khả năng là có.
- Có rất ít khả năng một người nào đã lẻn vào.
- Tôi giả thiết là không có.
- Cha tin chắc vậy à?
- Tại sao ông lại hỏi tôi câu đó, ông Guildea?
- Được rồi, được rồi.
- Ngoài ra, nếu có một kẻ nào đã lẻn vào, thì chắc chắn là ông đã tóm được hắn rồi.
Guildea lại húng hắng ho, ông cha ngạc nhiên và ông không thể không nhận thấy là Guildea đang bực bội, và sự bực bội đã ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của ông ấy.
- Đêm hôm đó tôi bị cảm lạnh - ông nói như thể ông đã đọc được ý nghĩ của người bạn và vội vã chống lại ý nghĩ đó. Rồi ông nói tiếp - Tôi đi vào phòng phía trước, hay đúng hơn là đi vào trong hành lang.
Ông ngưng lại nữa, sự khó chịu của ông đã trở nên rất rõ ràng.
- Và ông đã bắt gặp một người nào đó à? Ông cha nói.
Guildea đằng hắng giọng:
- Đúng thế - ông nói - Chúng ta hãy đến chỗ đó, như cha đã biết, tôi không có một óc tưởng tượng dồi dào.
- Chắc chắn là không rồi.
- Không, thế rồi khi tôi vừa mới đi vào trong hành lang, tôi đã biết chắc là có một người nào đó đã lẻn vào trong nhà trong lúc tôi vắng mặt. Tôi tin chắc là có việc này, và hơn nữa tôi quyết đoán rằng kẻ đột nhập chính là người mà tôi đã nhìn thấy một cách mơ hồ ngồi trên cái ghế dài của công viên. Cha nói sao về chuyện này?
- Tôi bắt đầu tin rằng ông có rất nhiều óc tưởng tượng.
- Hừ! Tôi thấy hình như cái người ngồi trên ghế và tôi, chúng tôi trong một lúc cùng có ý định nói chuyện với nhau, và chúng tôi đồng thời cũng di chuyển để thực hiện ý định này. Sự tin chắc đó trở nên quá vững chắc trong tôi khiến tôi chạy vội lên lầu một. Trong gian phòng này, chắc mẩm rằng sẽ thấy người khách đang chờ tôi ở đó. Nhưng không có ai cả. Thế là tôi lại đi xuống và bước vào phòng ăn. Không có người nào cả. Tôi hết sức ngạc nhiên. Việc đó có kỳ lạ không?
- Rất kỳ lạ. Ông cha nói một cách nghiêm trọng.
Thái độ băng giá và ảm đạm của ông giáo sư, người đang bị quấy phá, o ép đã xua đuổi cái khí vị hào hứng là thứ mà lẽ ra đã rất có thể len vào một buổi chuyện trò loại này.
- Tôi lại lên lầu, ông tiếp tục, ngồi xuống và suy nghĩ về việc này. Tôi quyết định quên nó đi và cầm lấy một quyển sách. Có lẽ tôi đã có thể đọc được, nhưng bỗng nhiên hình như tôi thấy...
Ông ngưng lại. Cha Mulchison nhận thấy ông đảo mắt về phía tấm vải màu xanh phủ lên cái chuồng của con két.
- Nhưng ta hãy bỏ qua chuyện đó, ông nói. Chỉ biết rằng tôi đã không thể nào đọc được nữa. Tôi quyết định đi tìm tòi trong nhà. Cha cũng biết rằng căn nhà là nhỏ bé, đi quanh một vòng trong căn nhà là việc dễ dàng. Thế là tôi đã đi một vòng trọn vẹn trong căn nhà. Tôi đã vào tất cả mọi căn phòng, không bỏ sót một phòng nào. Tôi đã xin lỗi những người hầu lúc họ đang ăn bữa tối. Chắc chắn là sự xuất hiện của tôi đã làm họ kinh ngạc.
- Còn Pitting thì sao?
- Ồ! hắn ta đứng dậy một cách lễ độ khi tôi bước vào, hắn ta vẫn đang yên trong khi tôi ở đó nhưng tuyệt nhiên không nói một lời nào. Tôi nói thì thào: “Đừng bận tâm", hoặc một câu đại loại như vậy, rồi đi ra. Thưa cha Murchison, tôi đã không tìm thấy người lạ mặt nào trong căn nhà. Tuy nhiên, tôi trở lại căn phòng này, lòng vẫn định ninh rằng có một người nào đó đã vào trong nhà trong khi tôi ở trong công viên.
- Và hắn đã đi ra khỏi trước khi ông quay về?
- Không, hắn ở lại và vẫn còn ở trong nhà.
- Nhưng, ông bạn Guildea thân mến… Lúc này ông cha đã bắt đầu thấy rất kinh ngạc. Chắc chắn là...
- Tôi biết những gì cha muốn nói, những gì mà tôi sẽ định nói nếu tôi ở vào địa vị của cha. Những xin cha hãy đợi một chút. Tôi cũng tin chắc là người khách đó không rời khỏi căn nhà và vào lúc này vẫn còn ở trong nhà.
Ông nói với một sự thành thực hiển nhiên, với một vẻ nghiêm trọng cực kỳ. Cha Murchison nhìn thẳng ngay vào mặt ông và bắt gặp cái nhìn linh hoạt, mãnh liệt của ông.
- Không, ông nói như để trả lời một câu hỏi được đặt ra. Tôi hoàn toàn lành mạnh về tinh thần, tôi đoán chắc với cha như vậy. Đối với tôi, tất cả câu chuyện kỳ quái này có vẻ không thể tin được cũng như nó phải không thể tin được đối với cha. Nhưng, như cha biết đấy, không bao giờ tôi muốn tranh biện về những sự việc, dù chúng có thể kỳ dị tới thế nào đi nữa. Tôi chỉ cố gắng xem xét chúng thật kỹ càng thôi. Tôi đã hỏi ý kiến một bác sĩ, ông ấy nói là tình trạng thể chất của tôi thật hoàn hảo.
Ông ngừng lại như thể chờ đợi một lời nhận xét của ông cha.
- Tiếp tục đi, Guildea - ông cha nói - Ông chưa nói hết mà.
- Không, tôi tuyệt đối tin chắc là tối hôm đó có một người nào đó đã lẻn vào trong nhà, và sự xác tín của tôi cứ lớn dần lên. Như thường lệ, tôi đã đi nằm, và đã ngủ một cách bình thường. Tuy nhiên, sáng hôm qua, khi tôi thức dậy, tôi biết rằng có thêm một người nữa cư ngụ trong căn nhà.
- Tôi có thể ngắt lời ông một lát được không? Làm thế nào mà ông biết được điều này?
- Chính trí tuệ của tôi đã đoan chắc với tôi điều đó. Tôi không biết gì khác, ngoài việc tôi hoàn toàn ý thức rằng có một sự hiện diện mới trong căn nhà của tôi, ở ngay sát gần tôi.
- Thật là kỳ quái! Ông cha nói. Và ông có hoàn toàn tin chắc rằng không có sự làm việc quá sức trong trường hợp của ông không? Ông không có bộ óc bị mệt mỏi chứ? Đầu óc ông có hoàn toàn tỉnh táo không?
- Hoàn toàn. Chưa bao giờ sức khỏe của tôi được tốt như thế này. Sáng hôm đó, khi tôi đi xuống ăn sáng, tôi đã nhìn một cách thô bạo vào mặt của Pitting. Hắn ta vẫn lạnh lùng, vẫn trầm tĩnh và không lộ chút cảm xúc nào như thường lệ. Tôi thấy rất rõ ràng là tâm hồn hắn không bị xao động một chút nào. Sau bữa ăn sáng, tôi bắt đầu làm việc, trong lòng lúc nào cũng nghĩ tới sự việc của sự xâm nhập vào chỗ riêng tư của tôi. Tuy nhiên, tôi đã bực bội trong nhiều giờ, chờ đợi một diễn biến nào đó có thể xua tan sự tối tăm và bí ẩn của sự cố này. Tôi ăn bữa trưa, vào khoảng hai giờ rưỡi tôi phải đi để mở một buổi diễn thuyết. Thế là tôi cầm lấy cái mũ và áo khoác ngoài, mở cửa và đi ra vỉa hè, ngay chính vào lúc đó tôi có cảm giác là không còn có sự đột nhập nữa, và dù sao thì trong lúc này tôi đang ở ngoài phố, xung quanh có nhiều người. Lúc đó tôi tin chắc rằng con người đó, kẻ đang ở trong nhà tôi, phải đang nghĩ đến tôi, có lẽ đang rình mò tôi.
- Xin chờ một lát - ông cha cắt ngang - lúc đó ông cảm thấy thế nào? Có phải là sự sợ hãi không?
- Trời ơi! Không. Tôi đã bị hoàn toàn bối rối và bây giờ tôi vẫn còn bối rối, tôi thấy quan tâm một cách mê mải, nhưng không sợ hãi chút nào. Tôi thực hiện buổi diễn thuyết cũng với sự dễ dàng như mọi khi, và trở về nhà vào lúc tối. Ngay chính lúc tôi bước vào trong nhà, tôi có một cảm giác rất rõ ràng là kẻ đột nhập vẫn còn ở đó. Tối hôm qua tôi ăn bữa tối một mình, và sau đó tôi để ra vài giờ để đọc một tác phẩm khoa học đã làm tôi quan tâm một cách sâu sắc. Tuy nhiên, trong lúc đọc sách này, không có một phút nào mà tôi không biết rằng ở gần bên tôi có một linh hồn mà tất cả sự chăm chú đều hướng vào tôi. Tôi xin nói thêm điều này: cảm giác đó không ngừng phát triển, và khi tôi đứng dậy để đi ngủ thì tôi đi tới một kết luận rất lạ kỳ.
- Làm sao? Kết luận nào?
- Việc sinh vật này - cái vật này - bất kể nó là cái gì đi nữa, đã lẻn vào trong nhà của tôi trong thời gian vắng mặt ngắn ngủi của tôi, lúc mà tôi ở trong công viên, đã gây ra cho tôi một điều còn hơn là sự quan tâm.
- Hơn là sự quan tâm ư?
- Hẳn là nó đã yêu tôi, hoặc đã bắt đầu yêu tôi.
- Ủa! Ông cha kêu lên. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lúc nãy ông đã hỏi tôi là tôi có tin rằng trong người ông có một thứ gì có sức lôi cuốn một cách không thể kháng cự được một người hay một con vật theo ông.
- Đúng thế. Từ lúc tôi đi tới kết luận đó, cha Murchison ạ, tôi thú thật rằng một tình cảm khác đang tới hòa trộn vào tính hiếu kỳ mãnh liệt của tôi.
- Sự sợ hãi ư?
- Không, sự thù ghét, hoặc sự bực bội. Không, không, không có sự sợ hãi, không có sự sợ hãi.
Vừa nhắc lại một cách không cần thiết lời phản kháng này, Guildea vừa nhìn lại cái chuồng của con két.
- Có điều gì phải sợ hãi trong một vụ như thế? Ông nói thêm. Tôi không phải là một đứa trẻ con để phải run sợ trước những con ma.
Ông đột ngột cất cao giọng khi nói tiếng cuối cùng này. Rồi ông đi nhanh tới chỗ cái chuồng, và với một cử động mau lẹ, ông kéo tấm vải phủ cái chuồng ra. Con két Napoléon hiện ra, nó có vẻ đang gập gờ ngủ trên cái cần đậu của nó, đầu hơi nghiêng về một bên. Khi ánh sáng rọi vào nó, nó cựa quậy xù lông cổ lên, hấp háy đôi mắt, và bắt đầu chuyền một cách không vội vã theo chiều ngang, trong một hướng rồi trong hướng khác, chìa cái đầu về phía trước, rồi kéo cái đầu lại với một vẻ hăng say mãn nguyện, mặc dù vẫn còn thiếu hẳn ý nghĩa. Guildea đứng gần cái chuồng, nhìn con két rất gần, và thật tình mà nói, với một sự chăm chú mà cường độ tỏ ra đặc biệt, gần như không bình thường.
- Ồ! Sự kỳ cục của loại gia cầm này! Cuối cùng ông nói, trong khi trở lại gần lò sưởi.
- Ông không còn điều gì khác để nói với tôi à? Ông cha hỏi.
- Không, tôi luôn luôn có cảm giác về sự hiện diện của một vật nào đó trong nhà của tôi. Tôi luôn luôn có cảm tưởng minh là đối tượng của một sự chú ý trong mọi khoảnh khắc. Tôi luôn luôn bị cáu kỉnh, bị bực bội một cách nghiêm trọng, vì sự chú ý đó, tôi thú thực điều này.
- Ông nói là ông có cảm giác một sự hiện diện ngay cả lúc này à?
- Trong lúc này, phải.
- Ông muốn nói trong căn phòng này, trong lúc này, với chúng ta à ?
- Dù sao thì tôi cũng tin như thế. Ở rất gần chúng ta.
Một lần nữa ông lại ném một cái nhìn mau lẹ gần như nghi ngờ về phía cái chuồng của con két. Con chim vẫn còn đứng trên cái cần của nó. Đầu nó cúi xuống nghiêng về một bên, và nó có vẻ đang lắng nghe một cái gì đó với sự chăm chú.
- Con chim này sáng mai sẽ nhái lại sự uốn giọng của tôi một cách trung thực hơn bao giờ hết, ông cha nói trong khi ngắm nghía Guildea với tất cả sự dịu dàng của cặp mắt màu xanh của ông. Nó đã luôn luôn bắt chước tôi với rất nhiều sự khéo léo.
Vị giáo sư hơi giật mình.
- Phải, ông nói, phải, không còn nghi ngờ gì nữa. Này, cha nói sao về vụ này?
- Không có gì cả, nó hoàn toàn không thể giải thích được. Tôi có thể nói một cách thành thực với ông, tôi biết chắc điều đó.
- Đồng ý, chính vì thế mà tôi đã kể tất cả cho cha biết.
- Tôi tin rằng ông đã làm việc quá sức, cạn hết khí lực, mà ông không ngờ tới.
- Thế là ông bác sĩ đã lầm khi ông ta thấy tôi hoàn toàn bình thường à?
- Phải.
Guildea gõ cái ống vố của ông vào tấm che lò sưởi.
- Điều này có thể lắm, ông nói. Tôi sẽ không gàn dở đến độ phủ nhận khả năng này, dù rằng trong đời tôi chưa bao giờ cảm thấy khỏe mạnh hơn lúc này. Vậy cha khuyên tôi nên làm gì đây?
- Một tuần lễ nghỉ ngơi hoàn toàn bên ngoài Luân Đôn, đến nơi thật thoáng đãng.
- Đó là điều mà người ta thường chỉ định. Tôi chấp nhận. Ngày mai tôi sẽ đi Westgate và để con Napoléon ở lại coi nhà trong lúc tôi vắng mặt.
Vì một lý do nào đó mà ông không thể nói ra, sự thích thú mà cha Murchison cảm thấy khi nghe đoạn bắt đầu của câu trả lời đã giảm đi, gần như đã bị triệt tiêu bởi câu nói sau cùng.
Buổi tối hôm đó, ông đi bộ tới trung tâm thành phố, mải mê trong các ý nghĩ. Ông nhớ lại và suy ngẫm một cách tỉ mỉ cuộc diện kiến đầu tiên của ông với Guildea tại nhà ông này, một năm rưỡi trước đây.
Sáng hôm sau, Guildea rời khỏi Luân Đôn.
Phần 3
Cha Murchison là một người quá bận rộn nên ông không có thì giờ để nghĩ ngợi về những việc của người khác. Tuy nhiên, trong tuần lễ mà Guildea sống ở bờ biển, ông thường nghĩ tới ông ta với rất nhiều ngạc nhiên và đôi chút kinh hoàng. Chẳng bao lâu sự kinh hoàng đã bị xua tan, vì ông cha có cái nhìn dịu dàng đó lại rất mau lẹ phát hiện ra sự yếu kém trong bản thân ông, mà lại còn mau lẹ hơn nữa để xua đuổi nó như một người khách bất hảo của tâm hồn. Nhưng sự kinh ngạc thì vẫn tồn tại, nó sẽ càng ngày càng lớn thêm. Guildea đã rời khỏi Luân Đôn vào một ngày thứ năm, ông trở về cũng vào một ngày thứ năm và đã gửi trước cho cha Murchison một lời để báo cho cha biết là ông sẽ rời khỏi Westgate vào một giờ nào đó. Khi xe lửa của ông chạy vào nhà ga Victoria, ông ngạc nhiên khi trông thấy cái bóng của người bạn ông trong chiếc áo lót bông đang đứng trên sân ga màu xám ngắt, phía sau một hàng những người phu khuân vác.
- Tại sao cha lại ở đây, thưa cha Murchison? Ông nói. Cha đã rời bỏ chức vụ tôn nghiêm mà cha đã tự dành cho mình một ngày nghỉ à?
Hai người bắt tay nhau.
Ông cha nói:
- Sự tình cờ đã xui khiến cho tôi có mặt ở đây hôm nay, tại chỗ này, để gặp một người bệnh. Chính vì thế mà tôi nghĩ tới việc tới đây đón ông.
- Và để xem có phải tôi vẫn còn bệnh hả?
Ông cha nhìn ông với con mắt hiền hậu, nhưng có kèm theo một tiếng cười khô khan.
- Ông vẫn còn bị bệnh à? Ông cha hỏi trong khi nhìn Guildea với sự quan tâm. Không, tôi không tin, ông có vẻ rất khỏe.
Thực ra, không khí mạn biển đã tô một chút nâu xạm và đỏ lên trên cặp má lúc nào cũng gầy ốm của Guildea. Cái nhìn sắc sảo của ông long lanh sức sống và khí lực, và ông tiến bước, mình mặc một bộ đồ xám nhạt và một áo khoác rộng thùng thình, với một sự tráng kiện mà ai cũng nhận thấy. Với bàn tay trái ông xách một cái vali đầy ắp mà không cần sự ráng sức nào.
Ông cha cảm thấy hoàn toàn vững bụng.
- Chưa bao giờ tôi thấy ông có sức khỏe tốt hơn thế, ông nói.
- Không bao giờ tôi cảm thấy khỏe hơn. Cha có thể dành cho tôi một giờ được không?
- Hai giờ.
- Tốt lắm. Tôi sẽ bảo một chiếc xe ngựa chở hành lý của tôi và chúng ta sẽ đi bộ qua công viên tới nhà, chúng ta sẽ uống một tách trà. Cha nghĩ thế nào?
- Điều đó làm tôi rất thích thú.
Họ đi ra khỏi nhà ga, đi qua bên cạnh những cô bé bán bia và những người bán hàng rong, và hướng về phía công viên Grosveur.
- Cuộc du ngoạn của ông có thoải mái không? Ông cha hỏi.
- Khá thoải mái, và cô đơn. Phải, tôi đã để người bạn của tôi ở lại, trong hành lang số 100.
- Và ông sẽ không gặp lại hắn, tôi biết chắc điều này.
- Hừm! Guildea kêu lớn. Theo ý cha thì tôi là một con số hoa mỹ à, thưa cha Murchison.
Ông đi những bước dài trong khi nói, làm như bị thúc đẩy phải nhấn mạnh cái cảm tưởng về sự cường tráng thể chất của ông.
- Một con số, không phải đâu, nhưng bất kỳ người nào muốn đòi hỏi bộ óc của mình một sự hoạt động liên tục như hoạt động của ông đều không thể tránh khỏi sự cần thiết của những chuyến nghỉ ngơi vào lúc này hay lúc khác.
- Và tôi rất cần được nghỉ ngơi phải không?
- Phải, tôi tin là ông cần được nghỉ ngơi.
- Được, đồng ý. Và bây giờ chúng ta sẽ thấy.
Chiều tối đổ xuống rất nhanh. Họ đi ngang qua đường phố ở góc công viên Hyde Park. Trong công viên lúc đó đang đông đảo một số người đi về nhà sau giờ làm việc, những người đàn ông mặc quần nhung kẻ sọc dính đầy bùn khô, vai đeo những thức ăn đóng hộp và những cái giỏ dẹp đựng các dụng cụ của họ, một vài người trong số những người trai trẻ nhất nói chuyện lớn tiếng, hoặc vừa nói vừa huýt sáo với một âm sắc cao vút.
- Mãi tới buổi tối, cha Murchison nói lẩm bẩm.
- Cái gì? Guildea hỏi
- Tôi chỉ nhắc lại những tiếng cuối cùng của bản văn, hình như đoạn này có liên quan tới đời sống, chủ yếu là đời sống khoái lạc: "Con người đi tới chỗ làm của y, và tới sự cực nhọc của y”.
- À! Một cử tọa gồm có những người đó tạo thành một đám công chúng còn lâu mới trở thành khó tính. Khi tôi gặp cha vào lần đầu tiên đã có một số lớn người trong buổi diễn thuyết mà tôi đăng đàn, tôi vẫn nhớ việc đó. Một người trong bọn họ cố ý làm tôi lúng túng vì các câu hỏi của ông ta. Ông ta có mái tóc đỏ hoe, những anh chàng tóc đỏ hoe bao giờ cũng đóng vai trò những kẻ hay nói trái ngược. Tôi đã làm cho ông ta im miệng lần đó. Cha Murchison này, bây giờ chúng ta đi xem.
- Xem cái gì?
- Xem có phải người bạn của tôi đã bỏ đi rồi không?
- Nói cho tôi biết đi, có phải ông vẫn còn tin rằng có một người nào đó ở trong nhà ông không?
- Hình như cha đắn đo lời nói đó! Không, tôi chỉ tự hỏi về việc đó thôi.
- Ông không có sự lo ngại à?
- Không một chút mảy may. Nhưng tôi thú nhận là tôi cảm thấy đôi chút kỳ dị.
- Vậy là không khí miền biển đã không làm được cho ông nhận thức rằng tất cả chuyện này đều là do sự làm việc quá sức ư?
- Không. Guildea nói với một giọng rất khô khan. Dù sao thì tôi cũng tin rằng sự làm việc quá sức đã có hiệu ứng này. Thế ra chuyến đi nghỉ ngơi này đã chứng tỏ cho tôi thấy là tôi có một óc tưởng tượng bệnh hoạn, không lành mạnh, phải không? Này cha Murchison, tại sao lại không nói một cách thành thực là cha đã đẩy tôi đi Westgate để xua đuổi khỏi tôi cái điều mà cha coi là cơn kịch biến của bệnh thần kinh?
Sự công kích này không làm ông cha nao núng chút nào.
- Này, Guildea - ông cha trả lời - theo ý ông thì tôi có thể nghĩ thế nào? Tôi không thấy ở ông một triệu chứng nào của bệnh thần kinh. Tôi đã không bao giờ thấy triệu chứng đó. Ông là người sau cùng mà người ta có thể tin rằng có khả năng bị mắc căn bệnh này, nhưng nếu tôi tin là ở ông có bệnh thần kinh, hay tôi tin vào sự đích thực của câu chuyện vào loại câu chuyện mà ông đã kể với tôi, thì điều nào là điều tự nhiên hơn?
- Việc đó không trả lời được. Không, tôi không có quyền phàn nàn gì cả. Dù sao trong lúc này không có vấn đề bệnh thần kinh ở tôi.
- Và cũng không có kẻ lạ mặt trong nhà của ông, tôi hy vọng thế.
Cha Murchison bỏ cái giọng đùa cợt mà cả hai người bạn họ đều đã dùng, ông nói những từ này với một sự nghiêm trọng rất chân thật.
- Cha coi vụ này rất nghiêm trọng đó, tôi thấy thế - Guildea nói, chính ông cũng nói với vẻ nghiêm trọng hơn.
- Làm thế nào mà tôi lại có thể coi nó khác đi được? Hẳn là ông đã không muốn thấy tôi cười khi ông kể lại câu chuyện một cách nghiêm chỉnh.
- Không. Nếu chúng ta lại thấy người khách của tôi ở trong nhà thì tôi có thể đi tới việc nhờ cha khử trừ nó, nhưng trước hết tôi phải làm một việc đã.
- Việc gì?
- Chứng tỏ với cha, mà cũng chứng tỏ với chính tôi, là hắn ta vẫn còn ở đó.
- Việc đó sẽ khó mà thực hiện được - ông cha nói trong khi hết sức ngạc nhiên vì giọng nói chắc nịch của Guildea.
- Nếu vật đó còn ở trong nhà tôi, tôi tin rằng tôi có thể tìm ra một phương cách. Và tôi sẽ không kinh ngạc một chút nào là nó còn ở đó, bất kể không khí ở Westgate.
Khi nói lên những từ cuối cùng này, vị giáo sư đã trở lại giọng đùa cợt hơi khô khan mà ông vẫn thường có trước đây. Ông cha không tài nào biết được là Guildea đang nghiêm trọng một cách cực kỳ hay đang vui vẻ một cách cực kỳ. Khi hai người đi tới gần Công viên Hyde Park, cuộc đàm thoại của họ chấm dứt. Họ lặng lẽ cất bước đi trong sự tối tăm mỗi lúc một dầy đặc hơn.
- Chúng ta đã tới nơi rồi!
Cuối cùng thì Guildea nói. Ông cho chìa khóa vào ổ khóa, mở cửa, đưa cha Murchison vào trong hành lang, đi theo sát phía sau ông và làm cánh cửa kêu lạch cạch.
- Chúng ta tới nơi rồi! Ông nhắc lại với một tiếng nói lớn hơn. Đèn điện đã được thắp sáng để đón tiếp ông, ông dừng lại và nhìn quanh ông.
- Chúng ta sẽ uống trà ngay tức thì, ông nói. À! Pitting đâu?
Người đầu bếp mặt tái nhợt, vốn đã nghe thấy tiếng cánh cửa lạch cạch, thong thả bước tới từ bậc cao của cầu thang dẫn tới nhà bếp, chào một cách kính cẩn người chủ của y, đỡ lấy cái áo khoác của ông cũng như cái áo lót bông của cha Murchison, và quặc chúng từng cái một bên hai cái móc đóng trên tường.
- Mọi sự đều tết đẹp chứ, Pitting? Không có gì bất bình thường chứ? Guildea nói.
- Thưa ông, không ạ.
- Đem cho chúng tôi một ít trà ở trong phòng đọc sách.
- Thưa ông, vâng.
Pitting lui ra. Guildea đợi cho hắn ta đi khuất dạng rồi mới mở cái cửa của phòng ăn, thò đầu vào trong căn phòng, rồi cứ đứng yên như thế trong một lúc, hoàn toàn không động đậy. Sau một lúc ông đi ra, đóng cửa lại và nói:
- Chúng ta hãy đi lên.
Cha Murchison nhìn ông một cách dò hỏi, nhưng không đưa ra một lời phê phán nào. Họ đi lên cầu thang và đi vào phòng đọc sách. Với một cái nhìn mau lẹ, Guildea dò xét căn phòng. Lửa đang cháy trong lò sưởi, những tấm màn màu xanh được kéo ra. Ánh sáng chói chang của ngọn đèn điện cực mạnh chiếu vào kệ sách, cái bàn làm việc được sắp xếp rất gọn gàng sau những ngày vắng mặt của Guildea, và cái chuồng của con két không được che phủ. Guildea đi tới gần cái chuồng, con két Napoléon thu mình lại trên cái cần, lông nó xù lên, cái bàn chân dài của nó trông giống như được phủ một lớp da cá sấu, bám chặt lấy các song sắt. Đôi mắt tròn của nó hấp háy, chúng có vẻ như bị che phủ bằng một cái màng mỏng, như thể do hậu quả của tuổi tác.
Guildea chăm chú nhìn con chim rồi ông tặc lưỡi. Con Napoléon cựa quậy, nó giơ một bàn chân lên, đuôi dài các ngón chân quắp lại, đứng về một bên ở trên cái cần, sát cạnh những then sắt ở gần ông giáo sư nhất và nó tựa đầu vào đó. Guildea lấy ngón tay trỏ cà vào đầu nó hai hay ba lần, cái nhìn của ông vẫn chăm chú dán vào con két, rồi ông quay trở lại gần lò sưởi, vào đúng lúc này Pitting bước vào với khay trà.
Cha Murchison đã ngồi trong một cái ghế bành ở một bên của lò sưởi. Guildea ngồi vào một cái ghế khác và bắt đầu rót trà, trong khi Pitting rời khỏi căn phòng, nhẹ nhàng đóng cánh cửa lại phía sau y. Ông cha uống một hớp trà, thấy nó nóng quá và đặt cái tách lên trên một cái bàn nhỏ ở gần ông.
- Ông yêu con két này, phải không? Ông hỏi người bạn của mình.
- Không phải một cách đặc biệt. Đôi khi nó thật lý thú để nghiên cứu. Trí khôn và bản chất của những con két thật là kỳ cục.
- Ông đã có nó từ bao lâu rồi?
- Khoảng gần bốn năm. Ngay trước khi được quen biết cha, một chút nữa tôi đã tống nó đi rồi. Bây giờ tôi rất bằng lòng là đã giữ nó lại.
- A! phải. Vì lý do gì?
- Có lẽ tôi sẽ nói việc đó với cha trong vòng một hay hai ngày tới.
Ông cha lại cầm lấy tách trà. Ông không thúc ép Guildea phải ngay tức thì cho ông một lời giải thích, nhưng khi hai người đã uống trà xong, ông nói:
- Này, không khí vùng biển có tạo được kết quả mong muốn không?
- Không. Guildea nói.
Ông cha rũ mấy miếng bánh vụn còn dính trên áo thầy tu của ông xuống và ngồi thẳng lên trên chiếc ghế của ông.
- Người khách của ông hãy còn ở đây à? Ông biết việc này lúc nào? Khi ông thò đầu vào trong phòng ăn lúc nãy phải không?
- Không, không phải trước lúc bước vào phòng này. Y đã đón tiếp tôi ở đây.
- Đón tiếp ư? Đón tiếp bằng cách nào?
- Chỉ đơn giản bằng sự hiện diện của y ở đây, bằng cách làm cho tôi cảm thấy sự hiện diện này, cũng như tôi có thể cảm thấy sự hiện diện của một người nào nếu tôi đi vào trong bóng tối.
Rất làm chủ được mình, ông nói một cách trầm tĩnh, với một giọng khô khan vốn đã là thói quen của ông.
- Tốt lắm, ông cha nói, tôi không có ý định chống lại cái cảm tưởng đó, hoặc triệt tiêu nó bằng những lời giải thích. Những dĩ nhiên là tôi thấy kinh ngạc.
- Tôi cũng vậy. Trong đời tôi chưa bao giờ trải qua một sự kinh ngạc như thế, Murchison ạ. Rõ ràng là tôi không thể hy vọng là cha tin được một điều gì khác, nếu không phải là tôi giả tưởng - hay tưởng tượng - nếu cha thích nghĩ thế - là ở đây có một kẻ đột nhập. Nó thuộc loại nào? Tôi hoàn toàn không biết gì về điều này. Tôi không thể chờ đợi việc cha tin là quả thật đã có một vật gì đang hiện hữu. Nếu cha ở vào địa vị tôi, và tôi lại ở vào địa vị cha, thì chắc chắn tôi sẽ nghĩ rằng cha là nạn nhân của một sự ảo giác nào đó bắt nguồn từ bệnh thần kinh. Tôi sẽ không có thể suy nghĩ khác đi được, nhưng xin hãy kiên nhẫn. Đừng kết tội tôi là một tên mắc bệnh tâm thần, hoặc bị thần kinh rối loạn, trong hai hoặc ba ngày nữa. Tôi có sự vững tin rằng trừ phi tôi bịđau ốm thật sự, hoặc tôi bị rối loạn thần kinh. Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ có thể đưa cha xem một bằng chứng nào đó về sự hiện diện của kẻ mới tới trong nhà của tôi.
- Ông không nói với tôi là loại bằng chứng nào chứ?
- Chưa nói, trước hết các sự việc phải được rõ ràng. Trong khi chờ đợi, tôi xin nói với cha: nếu kết cục tôi không thể mang lại cho cha một loại bằng chứng nào xác nhận rằng tôi không mơ mộng, tôi sẽ cho phép cha đưa tôi tới bất kỳ một nhà chuyên môn nào mà cha lựa chọn, và tôi sẽ cương quyết cố gắng chiều theo ý kiến của cha vào lúc đó: là không có điều gì khác ngoài một sự lầm lẫn xuẩn ngốc. Đó chính là ý kiến của cha phải không?
Cha Murchison nín thinh trong một lát. Rồi ông nói, với một giọng có vẻ ngần ngừ:
- Chắc đó phải là ý kiến của tôi.
- Thế đó không phải là ý kiến của cha à? Guildea ngạc nhiên hỏi.
- Ồ! Ông biết rằng thái độ của ông đã có sức thuyết phục ghê gớm. Tuy nhiên tôi vẫn còn hoài nghi, chắc chắn là thế. Làm thế nào mà nó có thể khác đi được? Tất cả những điều đó đều là vấn đề của óc tưởng tượng.
Ông cha nói như thể ông đang cố gắng thoát khỏi một quan điểm về tinh thần mà người ta ép buộc ông phải chấp nhận.
- Đây chỉ có thể là óc tưởng tượng, ông nhắc lại.
- Để thuyết phục cha, tôi sẽ dùng một lý luận vững vàng hơn là thái độ của tôi, hoặc là tôi sẽ không cố gắng thuyết phục cha nữa. Guildea nói.
Tối hôm đó, khi họ chia tay, ông nói:
- Trong một hay hai ngày nữa rất có thể là tôi sẽ viết thư cho cha. Tôi tin rằng bằng chứng mà tôi sẽ đưa cho cha đã hiện hình trong khi tôi vắng mặt. Nhưng chẳng bao lâu tôi sẽ biết nó.
Cha Murchison hết sức băn khoăn khi ông ngồi ở tầng trên của xe chở khách trở về nhà.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét