Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015
Truyen cổ Grim phần 5
Chọn vợ
Một chàng chăn chiên muốn hỏi một trong ba chị em nhà kia
làm vợ. Ba cô đều xinh, anh chàng phân vân mãi, không biết nên
chọn cô nào.
Chàng liền hỏi ý kiến mẹ. Bà bảo:
- Con cứ mời cả ba cô đến ăn. Con đem đặt trước mỗi cô một
miếng phó mát và để ý xem các cô cắt phó mát thế nào.
Chàng nghe lời mẹ.
Chàng thấy cô cả ăn phó mát cả cùi.
Cô hai cắt cùi vội quá, để sót nhiều ruột mà cứ thế vứt đi.
Cô út gọt cùi cẩn thận, không quá dày cũng không quá mỏng.
Chàng chăn chiên kể lại cho mẹ nghe. Mẹ bảo:
- Con nên lấy cô út.
Chàng nghe lời, quả nhiên sống với vợ rất là sung sướng.
Câu chuyện chỉ đơn giản kể về một chàng trai được bà mẹ
mách cho một diệu kế để chàng có thể chọn được một người vợ tử tế.
Nhưng đã nói lên được sự khôn khéo và tế nhị của bà mẹ, đồng thời
ca ngợi tính chăm chỉ, cẩn thận của người con gái.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Gã thợ xay nghèo khó
Ở một nhà xay bột kia có một bác thợ xay nghèo, không có vợ
con gì cả. Bác có ba gã giúp việc. Ba gã ở với bác được vài năm thì
một hôm, bác bảo họ:
- Ta đã có tuổi nên muốn được ngồi bên lò sưởi nghỉ ngơi.
Chúng mày hãy ra đi, đứa nào kiếm được con ngựa hay nhất mang
về sẽ được hưởng chiếc nhà xay và sẽ phụng dưỡng ta cho đến khi
ta nhắm mắt.
Gã thứ ba vốn là một cố nông đi ở, bị bọn kia coi là ngốc
nghếch, không đáng được hưởng chiếc nhà xay. Mà chính gã ta
cũng chẳng màng tới.
Cả ba cùng ra đi. Gần tới làng, hai gã đầu bảo chú ngốc tên là
Hanxơ:
- Thôi, mày ở lại đây thôi, suốt đời mày chẳng kiếm nổi con
ngựa thổ tả nào đâu.
Nhưng chú Hanxơ cứ đòi đi cùng. Đến đêm, bọn họ tới một cái
hang và ngủ lại đó. Hai gã tinh khôn đợi đến lúc Hanxơ ngủ, thì
dậy lên đường, kệ chú nằm đó, lấy làm đắc sách. - Được, nhưng rồi
bọn bay cũng chẳng ăn thua gì đâu! Lúc mặt trời mọc, Hanxơ tỉnh
giấc, thấy mình nằm trong hang sâu. Chú nhìn quanh rồi kêu la:
"Trời ơi là trời! Mình ở đâu đây?". Chú đứng dậy, loay hoay cố trèo
khỏi cái hang rồi mò vào rừng. Chú nghĩ bụng: "Mình bị bỏ rơi ở
đây một mình, làm sao mà mò cho ra được ngựa!".
Chú vừa đi vừa nghĩ như vậy bỗng gặp một con miu lông đốm
nhiều màu. Miu thân mật gọi chú:
- Chú Hanxơ ơi, chú đi đâu đấy?
- Hừ! Bộ mày giúp gì được tao!
Miu đáp:
- Tôi biết tỏng chú muốn gì rồi. Chú muốn có một con ngựa đẹp
chứ gì. Cứ theo tôi, hầu hạ tôi trung thành trong bảy năm thì tôi sẽ
cho chú một con ngựa đẹp tuyệt trần.
Hanxơ nghĩ bụng:
- Đúng là mèo thần. Nhưng để xem nó nói có thật không.
Mèo đưa chú tới tòa lâu đài bị phù chú của nó. Ở đây có tuyền
mèo con hầu hạ nó. Lũ mèo lên xuống thang gác rất nhanh nhẹn,
lúc nào cũng vui vẻ. Buổi tối, lúc ngồi vào bàn ăn, có ba con chơi
nhạc: một con chơi đàn tiếng trầm, một con kéo vĩ cầm, con thứ ba
phồng mồm thổi kèn. Ăn xong, dọn bàn ghế rồi miu nói:
- Chú Hanxơ ơi! Lại đây nhảy với tôi.
Chú đáp:
- Chịu thôi, tôi không nhảy với mèo đâu. Tôi chưa bao giờ nhảy
như vậy.
Miu bảo lũ mèo con:
- Thôi đưa chú đi ngủ vậy.
Lập tức, một con cầm đèn đưa chú vào phòng ngủ, một con cởi
giầy, một con tháo tất cho chú, rồi một con thổi tắt đèn.
Sáng hôm sau, lũ mèo lại đến giúp chú dậy. Con thì đi tất, con
thì đi giầy, con thì rửa cho chú, con thì lấy đuôi chùi mặt cho chú.
Chú Hanxơ nói:
- Thật là thú vị.
Nhưng dù sao chú vẫn phải hầu hạ con miu và ngày nào cũng
phải chẻ củi. Chú được phát rìu bằng bạc, cưa bằng vàng, chùa
bằng đồng. Chú ở nhà chẻ củi, được ăn uống ngon lành, nhưng
không thấy ai khác ngoài con miu lông đốm nhiều màu và lũ mèo
con hầu hạ. Một hôm, miu bảo chú:
- Chú hãy đi cắt cỏ ở đồng nhà ta rồi phơi khô cỏ đi.
Nói rồi, miu đưa cho chú một chiếc hái bằng bạc và một hòn đá
mài bằng vàng, lại dặn chú trả lại mọi thứ cho tử tế. Hanxơ vâng lời
đi làm ngay. Làm xong việc, chú mang hái, đá mài, cỏ về nhà hỏi
miu xem đã được lĩnh công chưa. Miu đáp:
- Chưa được đâu. Chú còn phải làm một việc nữa đã. Đây có gỗ
xây dựng bằng bạc, chiếc rìu, chiếc thước vuông và các thứ cần thiết
khác đều bằng bạc cả. Chú hãy đi làm cho tôi một ngôi nhà nhỏ đi.
Hanxơ làm nhà rồi bảo mọi việc đã xong mà vẫn chưa được lĩnh
ngựa. Quanh đi quẩn lại, bảy năm đã qua nhanh như chưa đầy sáu
tháng.
Miu hỏi chú có muốn xem ngựa của mình không.
Hanxơ đồng ý.
Miu mở chiếc cửa nhà con. Cửa mở thì thấy mười hai con ngựa.
Trời ôi! Con nào con nấy trông hiên ngang, bóng lộn khiến lòng chú
mừng rơn. Miu cho chú ăn rồi bảo:
- Thôi chú về nhà đi. Tôi không cho chú ngựa đâu. Nhưng trong
ba hôm nữa, chính tôi sẽ đến và mang ngựa cho chú.
Hanxơ liền lên đường. Miu chỉ cho chú đường về nhà xay. Miu
chẳng cho chú được một chiếc áo mới nào, bắt chú vẫn mặc nguyên
chiếc áo ngoài cũ rách bươm mà chú mặc khi mới tới. Qua bảy năm
chiếc áo này đã trở thành quá ngắn.
Chú về nhà thì đã thấy hai gã xay bột kia về rồi. Mỗi tên mang
theo một con ngựa, nhưng một con thì mù, một con thì què. Chúng
hỏi chú:
- Hanxơ, ngựa mày đâu?
- Ba ngày nữa sẽ đến sau.
Chúng cười bảo:
- Hừ! Hanxơ, mày mò đâu ra cho được con ngựa ra hồn cơ chứ.
Hanxơ vào buồng. Bác thợ xay không cho chú ngồi vào bàn ăn
vì sợ chú ăn mặc rách rưới quá có ai vào sẽ bị ngượng mặt. Họ để
riêng cho chú một ít thức ăn. Đến tối đi ngủ, hai tên kia không cho
chú nằm giường, chú đành phải chui vào chuồng ngỗng nằm trên ít
rơm cộm. Sáng dậy thì thấy ba ngày đã trôi qua. Có một cỗ xe sáu
ngựa tới, con nào cũng choáng lộn, trông thật đẹp. Lại có một người
hầu mang đến một con thứ bảy cho chú xay bột nghèo khó. Một
nàng công chúa đẹp tuyệt vời từ trên xe xuống, đi vào nhà xay, đó
là con mèo nhỏ lông đốm nhiều màu mà chú Hanxơ nghèo khó đã
hầu hạ trong bảy năm qua. Nàng hỏi bác thợ xay xem gã học nghề
nhỏ nhất, gã cố nông đi ở, hiện ở đâu. Bác đáp:
- Chúng tôi không dám để nó trong nhà xay vì nó rách rưới
quá. Nó đương nằm ở chuồng ngỗng ấy.
Công chúa truyền cho gọi chú lên ngay.
Bọn họ đi tìm chú đến. Chú phải túm chiếc áo ngoài lại để che
thân. Người hầu liền lấy những bộ quần áo lộng lẫy ra rồi đưa chú
đi tắm rửa, mặc vào cho chú. Công việc xong xuôi thì trông chú đẹp
hơn bất cứ ông hoàng nào.
Sau đó, công chúa đòi xem những con ngựa mà các gã xay bột
kia mang về: một con thì mù, một con thì què. Nàng bảo người hầu
mang con ngựa thứ bảy vào. Bác thợ xay trông thấy bảo là chưa
từng có con ngựa nào đẹp thế bước vào nhà bác. Nàng nói đó là
ngựa của gã xay bột thứ ba.
Bác thợ xay nói:
- Nếu vậy thì chú ấy được hưởng cái nhà xay.
Công chúa bảo là ngựa đã có rồi, còn bác cứ giữ lấy cái nhà xay.
Rồi nàng dắt chú Hanxơ trung hậu lên xe đi thẳng. Hai người đi tới
ngôi nhà nhỏ mà chú đã xây dựng bằng các dụng cụ bằng bạc. Nhà
đó đã biến thành một tòa lâu đài đồ sộ, đồ đạc ở trong tuyền bằng
vàng, bằng bạc. Hai người lấy nhau. Chú Hanxơ trở nên giàu có,
tiền của suốt đời không tiêu hết. Xem thế thì biết chớ nên nói là kẻ
nào có vẻ ngu ngốc thì không làm nên trò trống gì.
Câu chuyện kết thúc rồi mà ngỡ như trong một giấc mơ, phải
không các em? Các em không nên coi thường người khác cho dù
người đó có vẻ ngu ngốc. Trong dân gian có câu: "không biết mèo
nào cắn mỉu nào", câu nói đó thật đúng trong câu trên này, đúng
không nào?
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Hanxơ sắt
Xưa có một ông vua. Quanh cung điện của vua là một khu rừng
lớn trong đó có đủ các loài dã thú. Một hôm, có một người thợ săn
được vua phái vào rừng để bắn một con nai, nhưng không thấy anh
ta trở về vua bảo:
- Có lẽ hắn gặp tai nạn rồi.
Hôm sau vua sai hai tên thợ săn khác vào rừng để tìm người
thứ nhất, nhưng rồi cũng chẳng thấy ai về. Ngày thứ ba, vua cho
triệu tất cả các thợ săn trong xứ đến bảo:
- Các ngươi hãy đi sục khắp khu rừng tìm ra kỳ được ba người
mới thôi.
Đoàn người đi rồi lại cũng không thấy ai về. Cả đến đàn chó
săn mà họ dắt theo cũng biến đâu hết cả.
Từ hôm đó chẳng ai dám vào rừng nữa. Khu rừng càng thêm
âm thầm hiu quạnh. Họa hoằn mới thấy bóng một con chim ưng,
hoặc một con diều hâu bay ngang qua. Cứ thế cho mãi đến mấy
năm sau mới có một người thợ săn lạ mặt đến yết kiến vua, xin chu
cấp và tình nguyện vào khu rừng nguy hiểm nọ. Nhưng vua không
muốn nhận lời bèn phán:
- Trong đó chẳng an toàn đâu, ta chỉ ngại nhà ngươi sẽ còn phải
gặp chuyện rủi ro hơn cả mấy tên trước nữa, khó mà về thoát được.
Người thợ săn đáp:
- Tâu bệ hạ, xin cứ cho tôi thử một phen. Tôi không sợ đâu.
Người thợ săn dắt chó vào rừng. Đi mới được một lát. Chó tìm
thấy vết thú. Nó muốn lần theo nhưng chưa được mấy bước đã thấy
một cái đầm rất sâu chắn trước mặt, không thể nào đi tiếp được
nữa. Liền đó một cánh tay trần trụi từ dưới nước ngoi lên túm lấy
nó kéo xuống.
Người thợ săn thấy thế quay về ngay. Anh ta lấy thêm ba
người nữa, đem thùng theo định tát cạn cái đầm kia.
Lúc đã nhìn được suốt xuống tận đáy đầm, họ thấy có một
người rừng nằm dài dưới đó, mình hắn toàn bộ màu nâu như sắt gỉ,
tóc phủ qua mắt xõa xuống đến tận đầu gối. Họ lấy thừng trói gô
hắn lại rồi điệu về cung điện.
Nhân dân xôn xao kinh ngạc về người rừng. Vua cho nhốt hắn
vào một cái lồng sắt đựng ở ngoài sân chầu và nghiêm cấm không ai
được mở cửa lồng. Kẻ trái lệnh sẽ bị tử hình và hoàng hậu thân giữ
chìa khóa. Từ hôm đó, mọi người lại có thể yên tâm vào rừng.
Vua có một Hoàng tử lên tám tuổi. Một hôm, Hoàng tử đương
chơi bóng ngoài sân bỗng quả bóng vàng lăn vào trong cái lồng.
Hoàng tử chạy theo đòi:
- Trả lại bóng cho ta đây.
Người rừng đáp:
- Hãy mở cửa cho ta rồi ta sẽ trả.
Hoàng tử nói:
- Không được, điều đó thì không được, cha ta đã có lệnh cấm.
Nói xong, Hoàng tử chạy đi. Nhưng hôm sau, Hoàng tử lại đến
đòi quả bóng. Người rừng lại dỗ:
- Mở cửa cho ta.
Hoàng tử không chịu. Ngày thứ ba, giữa lúc vua đi săn vắng,
Hoàng tử lại tới bảo:
- Cho dù ta có muốn cũng chẳng mở được, vì ta không có chìa
khóa.
Người rừng đáp:
- Chìa khóa ở dưới gối mẹ mi ấy, vào đó mà lấy.
Hoàng tử còn nhỏ tuổi, muốn lấy lại quả bóng quá, không kịp
suy nghĩ chạy vào lấy luôn chìa khóa đem ra. Mở mãi mới được cái
cửa, hoàng tử lại bị kẹp một ngón tay. Cửa mở rồi, người rừng bước
ra, trả cho hoàng tử quả bóng rồi đi thẳng. Chú bé hoảng sợ, kêu
gọi ầm ĩ:
- Trời, người rừng ơi, đừng đi, ta sẽ bị đòn mất thôi.
Người rừng bèn quay lại, bế bổng Hoàng tử lên vai, rảo bước đi
vào rừng.
Lúc vua về nhà, thấy cái lồng trống không, vội hỏi hoàng hậu
xem sự thể thế nào. Hoàng hậu vẫn chưa biết chuyện mới đi tìm
chìa khóa thì chìa khóa đã mất. Hoàng hậu vội lên tiếng gọi con,
không thấy ai trả lời. Vua sai người ra ngoài thành tìm mà không
thấy. Vua đoán biết là có chuyện gì rồi. Trong triều, không khí nặng
nề buồn bã.
Lúc người rừng đã vào tới quãng rừng sâu rồi. Hắn đặt chú bé
xuống đất mà bảo chú:
- Mi sẽ không được thấy lại bố mẹ nữa đâu. Tuy vậy ta sẽ giữ
mi ở với ta, ta thương mi vì chính mi đã giải thoát cho ta. Mi cứ
theo đúng lời ta dặn thì sẽ được đối đãi tử tế. Vàng ngọc ở đây
không thiếu, ta có nhiều của cải hơn bất kỳ ai trên thế gian này.
Người rừng dọn cho chú bé một ổ rêu làm chỗ ngủ. Hôm sau,
hắn dẫn chú bé đến một cái giếng và bảo:
- Này, cái giếng vàng này sáng và trong như pha lê ấy. Nhiệm
vụ của mi là ngồi đây mà canh, không được để cho một thứ gì rơi
xuống đó, bằng không, giếng sẽ mất thiêng. Cứ chiều chiều ta sẽ
đến xem mi có làm đúng lời dặn không? Chú bé ngồi bên cạnh
giếng, chốc chốc lại thấy một con cá vàng hoặc một con rắn vàng
xuất hiện dưới đó. Chú cũng để ý giữ, không cho bất kỳ thứ gì rơi
xuống giếng.
Nhưng ngồi được hồi lâu, ngón tay bị kẹp đột nhiên đau dội lên,
chú vô tình nhúng nó xuống nước. Chú vội rút lên thật nhanh, song
ngón tay đã bị phủ toàn vàng mất rồi, chú ra sức lau mà không tài
nào sạch được.
Chiều tối. Hanxơ sắt - tên người rừng, đến nhìn chú bé hỏi:
- Có chuyện gì xảy ra ở giếng thế?
Chú bé đáp:
- Không, không.
Chú cố giấu ngón tay ra sau lưng cho người rừng khỏi thấy.
Nhưng người rừng đã bảo chú:
- Mi đã nhúng ngón tay xuống nước rồi. Lần này ta tha, song
mi cứ liệu, không được để bất kỳ cái gì rơi xuống nước nữa nhé!
Hôm sau, mới mờ sáng, chú bé đã trở dậy ra ngồi cạnh giếng.
Ngón tay lại đau, chú vuốt nó lên đầu cho dịu đi. Không may có một
sợi tóc đứt rơi đúng xuống giếng. Chú vội nhặt lên nhưng đã muộn,
sợi tóc đã chói một màu vàng.
Hanxơ sắt đến, biết ngay là có chuyện
- Mi lại để một sợi tóc rơi xuống giếng rồi. Phen này ta bỏ qua
cho mi, nhưng nếu còn để xảy ra chuyện đến lần thứ ba, cái giếng
kia mất thiêng đi, mi sẽ không còn được ở đây với ta nữa.
Ngày thứ ba, chú bé ngồi bên giếng, ngón tay vẫn đau lắm mà
không dám động đậy. Nhưng rồi ngồi yên mãi cũng chán, chú mới
cúi xuống soi bóng mình dưới lòng giếng. Cúi mãi, cúi mãi, chú cứ
muốn soi cho thật rõ, bất đồ cả mái tóc dài của chú từ hai vai xõa
xuống nhúng ngay vào nước. Chú vội đứng thẳng lên thật nhanh,
song muộn mất rồi, cả mớ tóc đã nhuốm vàng, rực rỡ như vầng
hồng. Chú khiếp đảm quá, rút khăn tay buộc lên đầu cho người
khác khỏi nhìn thấy.
Lúc Hanxơ sắt đến, hắn đã biết hết chuyện xảy ra nên bảo chú:
- Cởi cái khăn ra.
Tức thì những sợi tóc vàng thì nhau rủ xuống, chú bé ra sức
kêu xin nhưng cũng vô ích.
- Mi đã không vượt qua được cơn thử thách nên không thể ở lại
đây được nữa đâu. Giờ mi hãy đi ở với thiên hạ thôi. Mi sẽ biết thế
nào là cảnh khổ. Song vì mi không có ác tâm và ta cũng mến mi nên
ta cho phép mi một điều. Lúc nào gặp khó khăn, mi cứ vào rừng gọi:
"Hanxơ sắt", ta sẽ tới cứu mi. Quyền lực của ta rất lớn, lớn hơn mi
tưởng nhiều: vàng, bạc ta đều có thừa.
Hoàng tử từ biệt khu rừng đó, cứ chiếu thẳng đường mà đi, đến
một thành phố lớn. Hoàng tử định tìm việc làm nhưng không có, vả
chăng bản thân cũng chưa từng học nghề gì để có thể kiếm ăn. Sau
cùng, hoàng tử đến thẳng cung vua hỏi xem có ai muốn mướn
chàng hay không. Triều thần không biết dùng chàng vào việc gì
nhưng vì mọi người đều mến chàng nên giữ chàng lại. Chàng được
giao việc phụ bếp, ngày ngày khuân củi, xách nước, quét tro. Một
hôm, vì không tìm được ai khác, người đầu bếp sai chàng bưng thức
ăn lên dâng vua. Chàng không muốn để lộ mớ tóc vàng nên cứ đội
nguyên cả mũ mà vào hầu.
Vua chưa từng gặp chuyện vô lễ như thế bao giờ, quở ngay:
- Mi mang thức ăn vào dâng vua thì phải bỏ mũ ra.
Chàng đáp:
- Tâu hoàng thượng, tiếc rằng thần không thể làm thế được,
thần bị bệnh chốc đầu.
Vua bèn cho gọi ngay người đầu bếp tới, quở hắn sao dám
mướn một kẻ như thế giúp việc. Vua hạ lệnh phải đuổi chàng đi
ngay tức khắc. Người đầu bếp thương chàng, không nỡ đuổi, cho đổi
việc với gã coi vườn.
Từ đó, ngày ngày Hoàng tử trồng cây, tưới cây, xới đất, đào đất
ở ngoài vườn chẳng quản gió mưa.
Trời đã sang hè, một hôm đương lúc mải làm, oi bức quá, chàng
bỏ mũ cho mát. Ánh nắng rọi vào mớ tóc sáng rực, tia vàng phản
chiếu lọt vào đến tận phòng riêng của công chúa. Nàng nhỏm dậy,
ra xem có chuyện gì lạ. Tức thì nàng thấy chàng trai, liền gọi lại:
- Này chàng kia, hãy mang lại đây cho ta một bó hoa.
Hoàng tử vội vã đội ngay mũ lên đầu, bó một bó hoa đồng mang
lại. Chàng đương lên thang thì gặp người coi vườn bảo:
- Sao dâng hoa lên công chúa lại dám lấy rặt những giống hoa
dại này? Xuống lấy bó khác ngay đi, chọn những giống hoa đẹp nhất
và hiếm nhất ấy.
Chàng đáp:
- Không đâu, chính hoa dại lại thơm hơn, chắc chắn công chúa
sẽ thích hơn.
Lúc chàng bước vào phòng, công chúa bảo chàng:
- Bỏ mũ xuống đi, đứng trước mặt ta mà đội mũ là không được.
Chàng lại đáp:
- Bẩm, thần không dám, vì thần bị chốc đầu.
Nhưng công chúa giơ tay nhấc luôn cái mũ khỏi đầu chàng. Tức
thì mái tóc vàng kia rủ xuống đến tận vai chàng, nom rất đẹp mắt.
Chàng định bỏ chạy, công chúa kéo tay chàng lại, cho chàng một
nắm tiền vàng. Chàng cầm tiền đi ra. Nhưng vì chàng chẳng thiết
vàng nên đem lại cho người coi vườn, và bảo:
- Tôi gửi tặng các cháu nhỏ đây, để chúng làm đồ chơi.
Hôm sau, công chúa lại sai chàng đi hái một bó hoa đồng.
Chàng cầm bó hoa vừa bước qua cửa phòng, công chúa đã vội giật
cái mũ định lấy. Chàng nắm cả hai tay giữ chặt mũ lại. Công chúa
lại cho chàng một nắm tiền vàng và lần này chàng vẫn không muốn
giữ tiền, đem cho người coi vườn mang về cho con chơi.
Ngày thứ ba cũng như hai ngày trước. Công chúa vẫn không
lấy được mũ. Chàng cũng không muốn lấy vàng của công chúa.
Ít lâu sau, xứ có giặc. Vua cho gọi trăm họ lại. Chính vua cũng
chưa biết liệu rồi có chống cự nổi hay không. Thế giặc mạnh lắm,
chúng có một đạo quân rất lớn.
Chàng coi vườn tâu vua:
- Thần cũng đã trưởng thành, nên muốn được đi tòng chinh,
xin hãy ban cho thần một con ngựa.
Những người khác thấy thế đều cười rộ lên mà rằng:
- Hãy chịu khó đợi cho bọn ta kéo đi hết đã rồi hãy vào tầu
ngựa mà chọn, bọn ta sẽ để lại cho một con.
Khi mọi người đã kéo đi hết cả rồi, chàng vào dắt ngựa ra thì
thấy đó là một con ngựa què, khập khiễng bước cao bước thấp. Tuy
vậy, chàng cũng vẫn lên ngựa, phóng vào rừng sâu. Đến bên cạnh
rừng rồi, chàng cất tiếng gọi ba lần: "Hanxơ sắt!". Tiếng gọi đập vào
rừng cây nghe vang dội.
Tức thì người rừng hiện ra hỏi:
- Mi muốn gì?
- Ta muốn có một con ngựa chiến thật khỏe để đi đánh giặc.
- Được, mi sẽ có ngựa và còn nhiều hơn thế nữa.
Người rừng quay trở vào. Chỉ một lát sau, đã thấy có người coi
ngựa dắt một con ngựa chiến từ trong rừng đi ra. Lỗ mũi con vật
thở phì phì tưởng chừng rất khó điều khiển được nó. Sau con ngựa
là cả một đám quân lính mũ sắt giáp sắt, lưỡi kiếm sáng ngời dưới
ánh nắng.
Chàng trai trao con ngựa què lại cho người lính coi ngựa, nhảy
lên con chiến mã rồi vượt lên cả đoàn quân. Lúc chàng tiến tới gần
chiến trường thì bên nhà vua đã bị chết nhiều người và đang sắp
phải rút lui. Chàng liền thúc đoàn quân đầy đủ áo giáp và mũ trụ,
như một cơm lốc đánh thốc vào giữa quân giặc, đập tan hết thảy
mọi sức kháng cự. Giặc định rút chạy nhưng không kịp, chàng trai
đã tiến sát sau lưng chúng rồi và chàng cứ thúc quân đánh, đánh
mãi kỳ cho đến lúc không còn một tên giặc nào sống sót. Nhưng sau
đó chàng chẳng quay về chỗ vua mà lại dẫn quân theo đường tắt trở
lại khu rừng cũ, gọi Hanxơ sắt.
Người rừng hỏi:
- Mi muốn gì?
- Nhận lại ngựa của mi đi, trả lại cho ta con ngựa què.
Mọi việc xảy ra sau đó như ý muốn của chàng. Chàng cưỡi con
ngựa què trở về.
Lúc vua về đến cung điện, công chúa ra mừng thắng trận.
Vua nói:
- Không phải do ta đánh thắng trận, đó là công của một người
kỵ sĩ lạ mặt đã đem quân đến giúp ta.
Công chúa hỏi người kỵ sĩ đó là ai, nhưng chính vua cũng
không biết, nên vua chỉ nói:
- Người ấy còn mải đuổi theo quân giặc, nên ta cũng chưa được
gặp lại.
Công chúa bèn hỏi thăm người coi vườn về tin tức chàng trai
nọ. Bác ta cười mà thưa rằng:
- Gao cưỡi một con ngựa què vừa về đến nhà xong.
Mọi người đều giễu cợt và bảo:
- Anh chàng tập tễnh về kia rồi.
Họ còn hỏi mỉa gã:
- Này, suốt thời gian vừa rồi, cậu rúc vào ngủ ở xó nào đấy?
Nhưng gã chỉ ôn tồn đáp: "Ta đã làm hết sức mình, không có ta
có lẽ đất nước đã nguy rồi", khiến mọi người cười ầm lên.
Đức vua phán bảo con gái:
- Ta định báo là sẽ mở hội lớn trong ba ngày liền. Nhân dịp ấy
con sẽ ném một quả táo bằng vàng, biết đâu chàng kỵ sĩ lạ mặt kia
không lại.
Sau khi biết tin, chàng trai vội vào rừng gọi Hanxơ sắt.
Gã hỏi:
- Mi muốn gì?
- Ta ước mong sẽ bắt được quả táo vàng của công chúa.
Hanxơ sắt đáp:
- Được, chắc mi sẽ toại nguyện, nhưng mi phải nhớ mặc một bộ
giáp đỏ và cưỡi một con ngựa hồng thật oai phong.
Đến ngày hội, chàng trai cưỡi ngựa tới, đi lẫn vào trong đám kỵ
sĩ mà không ai nhận ra được chàng, công chúa bước ra nhằm phía
các kỵ sĩ mà ném quả táo vàng. Chàng bắt ngay được rồi thúc ngựa
phóng luôn đi mất.
Ngày thứ hai, Hanxơ sắt cho chàng một bộ áo giáp bạc trắng
với một con ngựa bạch. Chàng bắt được quả táo và lại thúc ngựa
phóng đi mất.
Đức vua giận lắm phán:
- Không thể được, hắn phải ra chầu trước mặt ta để ta hỏi tên
họ.
Vua ra lệnh:
- Kỵ sĩ nào bắt được quả táo mà bỏ chạy sẽ bị đuổi theo, nếu
không tự ý quay lại sẽ bị đâm chết.
Đến ngày thứ ba, chàng trai được Hanxơ sắt cấp cho một bộ áo
giáp đen với một con ngựa ô. Chàng lại bắt được quả táo. Lúc chàng
bỏ chạy, đám quân sĩ của nhà vua hò nhau đuổi theo. Có một người
đuổi rất sát, liền chém một nhát, mũi kiếm lướt ngang chân chàng
khiến chàng bị thương. Chàng chạy thoát nhưng vì con ngựa phải
nhảy dữ quá, chiếc mũ trụ của chàng bị tuột khỏi đầu rơi mất, mọi
người đều trông thấy mái tóc vàng rực. Họ quay ngựa về nói lại cho
vua biết.
Hôm sau, công chúa hỏi thăm người coi vườn về chàng trai.
- Gã ta đang làm ở ngoài vườn. Thế mà gã ta cũng đi dự hội
đấy, mãi tối qua mới về. Gã có cho các cháu nhà tôi xem ba quả táo
vàng mà gã bắt được.
Vua cho đòi chàng. Chàng vào hầu, đầu vẫn đội mũ. Nhưng
công chúa đã bước tới bỏ chiếc mũ xuống. Tức thì mái tóc vàng rủ
xuống đến tận vai, đẹp quá, mọi người đều phải kinh ngạc.
Vua hỏi:
- Có phải chính ngươi là người kỵ sĩ đến đám hội mỗi ngày
trang phục một màu và đã bắt được ba quả táo vàng đó không?
Chàng đáp:
- Dạ thưa chính thần đó ạ, và đây là ba quả táo.
Chàng móc túi lấy ba quả táo dâng lên vua:
- Nếu như hoàng thượng còn đòi thần phải có vật chứng gì khác
nữa thì xin hãy xem vết thương đây. Thần đã bị thương trong lúc bị
đám quân sĩ đuổi. Nhưng thần cũng chính là người kỵ sĩ đã giúp
hoàng thượng chiến thắng quân giăc bữa trước đó.
Vua phán:
- Ta thấy rồi, ta chịu ơn nhà ngươi, ta có thể làm gì để ngươi
vui lòng.
Chàng đáp:
- Tâu hoàng thượng, thần chỉ xin được cùng công chúa kết
duyên.
Công chúa cười mà rằng:
- Chàng thật không biết úp mở chút nào.
Nàng tiến lại ôm hôn chàng.
Hôm cử hành hôn lễ, cả cha mẹ chàng cũng đến, hai người rất
vui mừng vì họ đã mất hy vọng gặp lại con từ lâu lắm rồi. Vừa lúc
mọi người ngồi vào bàn tiệc xong, bỗng thấy ngừng tiếng nhạc, cửa
lớn mở ra, một vị hoàng đế oai phong lẫm liệt bước vào, theo sau
không biết bao nhiêu là người hầu. Vị hoàng đế ấy bước thẳng đến
chỗ chàng trai, ôm chàng bảo:
- Ta chính là Hanxơ sắt đấy. Ta đã bị phù phép biến thành một
người rừng nhưng con đã giải thoát cho ta. Từ nay mọi thứ của cải
mà ta có đều thuộc về con.
Câu chuyện giúp các em hiểu về tình nghĩa của con người đối
với nhau. Chính sự giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn đã giải thoát
được cả bùa mê và phù phép.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Hai ông cháu
Xưa có một ông cụ già nua tuổi tác, mắt mờ, tai nặng, chân tay
run lẩy bẩy. Khi ngồi ăn, cụ cầm thìa không vương, đánh đổ xúp ra
khăn bàn; xúp rơi ra cả ngoài miệng. Con trai và con dâu thấy thế
không thích, đuổi cụ ra ngồi một xó sau lò sưởi và lấy thức ăn vào
bát sành cho cụ ăn. Mà nào có cho cụ ăn no! Mỗi khi cụ liếc mắt về
phía bàn ăn, cụ lại rầu rầu nét mặt, rơm rớm nước mắt.
Một hôm cụ run tay, đánh rơi cái bát xuống đất, bát vỡ tan. Cô
nàng dâu mắng nhiếc cụ, nhưng cụ chỉ nín lặng, thở dài. Chị ta
mua cho cụ cái bát khác bằng gỗ chỉ đáng vài xu. Từ đó, cụ phải ăn
bằng chiếc bát ấy.
Cách đó ít lâu hai vợ chồng thấy đứa con trai lên bốn tuổi ngồi
ghép mấy mảnh gỗ ở dưới đất.
Bố hỏi con:
- Con làm gì đấy, con?
Đứa bé đáp:
- Con làm cái bát để cho bố mẹ ăn khi con lớn lên.
Nghe con nói, hai vợ chồng lặng lẽ nhìn nhau một lúc, rồi cùng
òa lên khóc đưa ông cụ lên ngồi ở bàn. Thế là từ đó, họ lại để cụ
ngồi ăn cùng bàn, nhỡ ông cụ có đánh đổ ít xúp ra bàn cũng chẳng
nói gì nữa.
Câu chuyện cho ta thấy một điều rõ ràng là: "nước mắt chảy
xuôi". Bố mẹ nào cũng yêu con mình nhất. Nếu con cái đối xử không
đúng với bố mẹ già thì khi về già con cái sẽ đối xử lại như thế.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Sáu con thiên nga
Ngày xưa có một ông vua đi săn ở một khu rừng lớn, vì vua
đuổi theo một con thú hăng quá nên quân hầu không ai theo kịp.
Tối đến, vua đứng lặng nhìn quanh, thấy mình đã bị lạc đường,
không tìm được lối ra. Bỗng vua thấy có một mụ già, đầu lắc lư đi
tới: đó là một mụ phù thủy. Vua bảo mụ:
- Này cụ, cụ có thể làm ơn chỉ cho tôi lối ra khỏi rừng được
không?
Mụ đáp:
- Tâu bệ hạ, được chứ. Cái đó già làm được, nhưng với một điều
kiện mà nếu bệ hạ không chấp nhận thì bệ hạ không bao giờ ra
được khỏi rừng này và sẽ chết đói ở đây.
Vua hỏi:
- Điều kiện gì hở cụ?
- Già có một đứa con gái đẹp nhất đời. Bệ hạ chưa từng thấy ai
đẹp đến thế đâu, thật xứng đáng làm vợ vua. Nếu bệ hạ đồng ý lấy
nó làm hoàng hậu thì già sẽ chỉ đường cho bệ hạ ra khỏi rừng.
Trong lúc hoảng sợ, vua bằng lòng ngay. Mụ già dẫn vua đến
ngôi nhà nhỏ của mụ. Con gái mụ ngồi bên lửa. Cô đứng dậy ra đón
vua ngay, như đã sẵn sàng chờ vua đến. Vua thấy cô tuyệt đẹp
nhưng không thích, nhìn cô, vua cảm thấy rờn rợn. Sau khi vua đặt
cô lên mình ngựa thì mụ chỉ đường cho vua. Vua về đến cung điện
làm lễ cưới.
Nguyên vua đã lấy vợ một lần và hoàng hậu sinh được bảy con,
sáu trai một gái, vua yêu quí vô cùng. Sợ người dì ghẻ đối với con
mình không tốt mà còn có thể làm khổ chúng nữa vua đưa chúng
đến ở một tòa lâu đài hiu quạnh giữa rừng sâu. Lâu đài rất kín,
đường đi đến khó mà tìm được, chính vua cũng không tìm ra đường
nếu không được một bà lão cho một quận chỉ có phép lạ. Khi vua
ném quận chỉ về phía trước, nó sẽ tự gỡ ra và chỉ đường cho vua.
Nhà vua luôn luôn đi thăm các con yêu dấu, nên hoàng hậu để ý
đến sự vắng mặt của vua, Mụ dì ghẻ tò mò muốn biết vua đi vào
rừng một mình làm gì. Mụ bèn cho thị vệ của vua nhiều tiền, chúng
nói lộ bí mật cho mụ biết và nói cả đến cuộn chỉ biết đưa đường.
Mụ bứt rứt không yên tâm, mãi cho đến lúc mụ tìm ra được chỗ
vua để cuộn chỉ. Mụ bèn may một số áo lót bằng lụa trắng và khâu
bùa vào vì mụ học được ít phép của mẹ. Một hôm, vua ruổi ngựa đi
săn vắng, mụ mang áo đi theo cuộn chỉ dẫn đường vào rừng. Bọn
trẻ thấy từ xa có bóng người đến tưởng là cha yêu dấu, vội vui
mừng chạy lại đón, Mụ bèn tung trùm lên mỗi đứa một cái áo, áo
vừa đụng vào người thì chúng biến ra thiên nga bay vượt qua rừng
biến mất. Mụ hớn hở về nhà, tưởng là đã trừ được lũ con chồng.
Nhưng mụ không ngờ là còn cô con gái không chạy ra đón cha cùng
các anh.
Một hôm, vua đến thăm các con thì chỉ thấy con gái thôi. Vua
hỏi:
- Các anh con đâu?
Cô đáp:
- Trời ơi, cha yêu dấu! Các anh con đi mất rồi, bỏ lại mình con.
Rồi cô kể cho vua nghe cô đứng ở cửa sổ nhìn thấy những gì,
các anh cô hóa thiên nga bay qua rừng thế nào, và đưa cho vua xem
những lông chim cô nhặt được ở ngoài sân. Vua rất buồn bã nhưng
không ngờ là hoàng hậu làm việc độc ác ấy. Vua sợ cô gái cũng bị
mất nốt nên định mang cô đi cùng. Nhưng cô sợ dì ghẻ nên xin vua
hãy để cô ở lại tòa lâu đài trong rừng đêm ấy nữa.
Cô gái đáng thương nghĩ bụng:
- Mình không thể ở đây lâu được nữa, mình phải tìm các anh
mới được.
Đêm đến, cô trốn vào rừng. Cô đi suốt đêm hôm ấy cả ngày
hôm sau, mãi đến lúc mệt quá không đi được nữa. Lúc đó, cô thấy
một chiếc lều hoang. Cô bước vào thì thấy một căn buồng có sáu
chiếc giường nhỏ. Nhưng cô không dám nằm vào chiếc nào, mà chui
xuống nằm ở gầm giường, định ngủ đêm đó trên nền đất rắn.
Nhưng tới lúc mặt trời sắp lặn cô nghe có tiếng lào xào và thấy
sáu con thiên nga bay qua cửa sổ chui vào. Chúng ngồi xuống đất,
thổi lẫn cho nhau, cho bay hết lông; bộ lông thiên nga trút ra như
một chiếc áo lót. Cô gái nhận ra các anh mình, mừng lắm, chui ở
gầm giường ra. Các anh trông thấy em cũng mừng rỡ chẳng kém.
Nhưng vui chẳng được bao lâu, các anh bảo em:
- Em không ở đây được đâu. Đây là sào huyệt của bọn cướp,
chúng về thấy em sẽ giết em mất.
Em hỏi:
- Thế các anh có cách nào che chở em không?
Các anh nói:
- Không, vì mỗi tối, các anh chỉ có thể trút bộ lông thiên nga,
hiện nguyên hình người trong một khắc đồng hồ, sau đó lại phải
biến thành thiên nga.
Em khóc hỏi:
- Thế không có cách nào giải thoát các anh à?
Các anh đáp:
- Không được đâu! Khó lắm. Trong sáu năm, em không được
nói được cười. Trong thời gian ấy, em phải may cho các anh sáu
chiếc áo lót nhỏ bằng hoa thúy cúc. Nếu em nói nửa lời là công toi
hết.
Các anh vừa nói xong thì một khắc đồng hồ đã qua, các anh lại
biến thành thiên nga bay qua cửa sổ mất.
Cô gái nhất định giải thoát cho các anh, dù có phải hy sinh tính
mạng. Cô rời bỏ chiếc lều hoang, vào giữa rừng, leo lên cây ngủ
đêm. Sáng hôm sau, cô đi hái hoa thúy cúc và bắt đầu khâu áo. Cô
chẳng nói năng được với ai mà cũng chẳng buồn hé miệng cười. Cô
chỉ ngồi một chỗ chăm chú làm.
Một thời gian đã qua. Vua xứ ấy cùng thợ săn vào rừng tìm
thú, đến cây cô ngồi. Họ gọi cô:
- Cô hãy xuống đây với chúng tôi, chúng tôi không hại gì cô
đâu.
Cô chỉ lắc đầu. Họ hỏi dồn mãi, cô liền ném xuống cho họ chiếc
dây chuyền đeo cổ bằng vàng, tưởng làm như thế cho họ yên đi.
Nhưng họ vẫn không chịu thôi, cô liền vứt chiếc thắt lưng của cô
xuống. Thấy vẫn chưa ổn cô vứt thêm nịt bít tất, rồi dần dần dần
vứt tất cả các thứ mặc trên người có thể vứt được, đến nỗi cô chỉ còn
chiếc áo lót.
Những người thợ săn không vì thế mà chịu lùi. Họ trèo lên cây,
ẵm cô xuống đưa đến trước mặt vua.
Vua hỏi:
- Nàng là ai? Nàng ngồi trên cây làm gì?
Cô không đáp. Vua dùng đủ các thứ tiếng vua biết mà cô vẫn
câm như hến. Nhưng cô đẹp quá khiến lòng vua rung động. Vua yêu
cô tha thiết. Vua khoác áo ngực cho cô, đặt cô lên kiệu ngồi trước
mình đưa về cung điện. Vua cho cô mặc quần áo sang trọng, cô đẹp
lộng lẫy như một ngày nắng đẹp, nhưng cô vẫn không nói nửa lời.
Vua đưa cô lại ngồi ở bàn ăn, cho ngồi bên mình. Dáng điệu nhu mì
và e lệ của cô khiến vua rất hài lòng.
Vua nói:
- Ta thiết tha muốn lấy cô này, ta không lấy một ai khác trong
thiên hạ đâu.
Mấy hôm sau, vua lấy nàng.
Vua có một bà mẹ ghẻ độc ác, không bằng lòng với đám cưới
này, và nói xấu hoàng hậu trẻ tuổi. Bà bảo:
- Không biết cái con này ở đâu ra mà nó không nói năng gì
được. Nó không xứng đáng làm vợ vua.
Hơn một năm sau, khi hoàng hậu sinh con đầu lòng. Mụ bắt
trộm đi và lừa khi nàng ngủ bôi máu vào mồm nàng. Rồi mụ tâu
vua là nàng ăn thịt người. Vua không tin, không để ai làm hại
nàng. Lúc nào nàng cũng ngồi khâu áo lót, ngoài ra không để ý đến
cái gì khác. Lần sau, nàng lại sinh một đứa con trai kháu khỉnh.
Mẹ ghẻ quỉ quyệt lại lừa vua như lần trước. Vua vẫn nhất định
không tin lời mụ. Vua bảo:
- Nàng trong sạch và tốt bụng, không thể làm việc ấy đâu. Nếu
nàng nói được và có thể tự bênh vực được thì sẽ minh oan được.
Nhưng đến lần thứ ba, mụ già lại ăn trộm đứa bé mới đẻ và lại
tố cáo hoàng hậu. Nàng vẫn không nói nửa lời để minh oan. Vua
không làm khác được phải đưa nàng ra tòa xử. Nàng bị kết tội chết
thiêu.
Đã đến ngày hành hình, cũng là ngày cuối cùng của thời gian
sáu năm không được nói, cười, ngày nàng sẽ giải thoát được các anh
khỏi yêu thuật. Sáu chiếc áo lót đã khâu xong chỉ còn thiếu cánh
tay áo chiếc cuối cùng. Khi nàng bị dẫn đến đống củi, ở dưới sắp
châm lửa, nàng nhìn quanh thì thấy sáu con thiên nga bay trên
không lại. Nàng cảm thấy mình sắp được cứu thoát, lòng mừng
khôn xiết.
Thiên nga bay rào rào tới chỗ nàng, sà xuống thấp để nàng có
thể ném áo lót lên tới được. Áo vừa đụng chim thì lông thiên nga rơi
xuống liền, các anh nàng hiện lên hình người đứng trước nàng, vui
vẻ, đẹp đẽ. Chỉ có người em cuối cùng là chiếc áo còn thiếu cánh tay
trái vì vậy ở lưng còn có một cánh thiên nga. Anh em ôm nhau hôn
trìu mến; hoàng hậu đến tìm vua, vua rất đỗi ngạc nhiên. Nàng nói:
- Tâu bệ hạ, giờ thiếp mới được phép nói và bộc lộ là thiếp đã bị
oan.
Nàng kể lại âm mưu mụ già đã lấy trộm ba đứa con đem giấu
đi. Vua tìm được con mừng rỡ lắm, còn mụ dì ghẻ cay nghiệt kia
phải đền tội. Mụ bị trói trên đống lửa và bị thiêu ra tro. Vua và
hoàng hậu cùng sáu anh hưởng hạnh phúc dài lâu.
Các em vừa được đọc một trong những câu chuyện hay trong bộ
truyện cổ Grim. Truyện ca ngợi tấm lòng vàng của người con gái
biết hy sinh tất cả để cứu các anh mình. Nàng rất xứng đáng được
hưởng hạnh phúc lâu dài.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Chú bé nghèo dưới nấm mồ
Xưa có một chú bé chăn dê nghèo, bố mẹ đều chết cả, quan trên
đưa chú cho một nhà giàu nuôi dạy. Song vợ chồng nhà này rất cay
nghiệt. Của cải đã có thừa mà họ vẫn tham lam bủn xỉn. Hễ có ai
ăn mất của họ một tí bánh mì là họ đã tức giận rồi. Chú bé phải
làm cật lực mà được ăn rất ít mà thường là ăn đòn nhiều hơn.
Một hôm, chủ giao cho chú trông con gà mái và một đàn gà con.
Gà mẹ đuổi con lạc qua một bụi tầm xuân. Bỗng một con diều hâu
từ trên cao bổ xuống, quặp lấy gà mẹ bay đi mất. Chú bé lấy hết hơi
sức gào: "Kẻ cắp! kẻ cắp! Bắt lấy quân kẻ cắp!". Nhưng nào có ích
gì. Diều hâu đâu có chịu tha mồi về trả. Chủ nghe tiếng kêu vội
chạy ra. Lúc biết là mất gà, hắn ta giận điên lên đánh chú bé tới
tấp, đến nỗi mấy ngày sau chú vẫn không nhúc nhích được.
Giờ chú phải trông đàn gà vắng mẹ. Khó khăn càng nhiều hơn
vì lũ gà cứ bỏ chạy lung tung. Chú bèn nghĩ ra một cách, chú lấy
dây buộc chằng lũ gà lại với nhau. Chú tưởng thế là diều hâu không
thể bắt được một con gà nào nữa. Nhưng chú đã lầm to, mấy hôm
sau, chú vừa ngủ thiếp đi vì mệt và đói thì con chim độc ác kia lại
đến, sà xuống bắt một con gà con. Vì con nọ đã buộc chằng vào con
kia nên diều hâu vớ được trọn cả một đàn. Nó tha tít lên ngọn cây
nuốt hết sạch. Vừa khi ấy tên nhà giàu cũng về tới nhà. Thấy tai
họa xảy ra, hắn phát khùng, lại đánh chú bé một trận không tiếc
tay, đến nỗi chú phải nằm liệt giường mấy ngày liền.
Khi chú đã đi lại được, hắn bảo: "Mày đần độn quá không thể
nào trông coi cái gì hết, thôi để sai vặt vậy".
Hắn giao cho chú một làn nho đến biếu viên thẩm phán, kèm
theo một bức thư. Giữa đường, vừa đói vừa khát, chịu chẳng nổi,
chú bé đánh liều ăn mất hai chùm nho. Lúc chú đem nho đến nhà
tên thẩm phán, viên quan này bóc thư ra xem, rồi lại thấy thiếu
mất hai chùm nho liền bảo:
- Thiếu mất hai chùm.
Chú bé thật thà thú nhận là giữa đường đói và khát quá chú đã
trót ăn mất số nho đó rồi. Viên thẩm phán viết thư cho người nông
dân đòi phải nộp đủ số nho như đã viết trong thư.
Lần này chú bé lại phải đem nho với một lá thư khác đi. Và dọc
đường, đói khát quá, cực chẳng đã, cũng như lần trước, chú lại ăn
mất hai chùm. Song lần này, để giấu bức thư khỏi lộ, chú đã lục làn
lấy thư ra, chặn dưới một hòn đá rồi ngồi đè lên trên. Thế mà viên
thẩm phán vẫn cứ hỏi chú về số nho bị thiếu.
Chú kêu lên: "Trời ơi, sao mà ông biết được! Đến bức thư cũng
không thể biết chuyện ấy cơ mà, vì tôi đã chặn một hòn đá lên rồi".
Viên thẩm phán phì cười về sự ngây ngô của chú. Ông ta biên thư
cho tên nhà giàu khuyên hắn nên đối xử tốt hơn với chú bé nghèo,
phải cho chú ăn uống đầy đủ và dạy cho chú biết phân biệt phải
trái.
Con người nhẫn tâm nói: "Rồi ta sẽ dậy cho mày phân biệt. Nếu
mày muốn ăn thì mày cũng phải chịu làm. Mày làm sai trái, ta sẽ
dạy mày bằng roi vọt".
Hôm sau hắn giao cho chú bé một việc khó. Chú phải băm mấy
bó rơm làm thức ăn cho ngựa. Hắn đe chú: "Trong năm tiếng nữa, ta
trở về, nếu mày vẫn chưa băm xong chỗ rơm này thì ta sẽ đánh cho
mày một trận bò lê bò la". Hắn cùng vợ, đầy tớ trai, đầy tớ gái đi
phiên chợ hàng năm và chỉ để lại cho chú bé có một mẩu bánh mì con.
Chú bé ngồi trên đống rơm ra sức băm. Được một lúc thấy
nóng, chú cởi áo ngoài ra quẳng lên đống rơm. Trong bụng chỉ lo
làm không kịp, chú ra sức băm. Giữa lúc hăng hái, chú quên khuấy
băm nát cả tấm áo của chú lẫn trong rơm. Đến lúc nhớ ra thì đã
muộn rồi, không còn làm thế nào được nữa. Chú kêu lên: "Trời ơi,
chết tôi rồi. Con người cay nghiệt kia có bao giờ dọa suông đâu! Hắn
về mà thấy mình làm thế này thì hắn sẽ đánh mình chết mất. Thà
tự tử trước còn hơn".
Đã có một lần chú bé nghe thấy mụ chủ bảo: "Ở dưới gầm
giường có niêu thuốc độc". Sự thật mụ ta chỉ nói để dọa những kẻ
tham ăn vì niêu đó đựng mật ong. Chú mới bò vào gầm giường lôi
cái niêu ra đánh hết nhẵn.
Chú tự bảo: "Không hiểu sao người ta vẫn bảo cái chết là cay
đắng mà mình ăn lại chỉ thấy ngọt. Trách nào mụ chủ cứ muốn
được chết".
Chú ngồi lên cái ghế, bình tĩnh đợi chết. Nhưng chú không
thấy mình lả đi, trái lại nhờ món ăn rất bổ kia, chú lại cảm thấy
mình khỏe ra. Chú tự bảo: Chắc không phải là thuốc độc. Song
mình còn nhớ có lần lão chủ bảo: Trong hòm quần áo có chai thuốc
diệt ruồi. Nhất định nó là thuốc độc thật và phải uống thứ thuốc đó
mới chết được". Song đó cũng không phải là thuốc diệt ruồi thật mà
chính là rượu nho.
Chú lôi cái chai ra tu sạch. Chú bảo: "Thứ thuốc độc này cũng
ngọt". Nhưng chỉ một lúc sau rượu bắt đầu ngấm. Chú thấy người
ngây ngất lại nghĩ bụng: chắc chết đến nơi rồi. Chú tự nhủ: "Có lẽ
mình sắp chết, phải đi ngay ra nghĩa địa tìm sẵn lấy một cái huyệt
mới được". Chú bước đi lảo đảo, đến nghĩa địa nằm trong một cái
huyệt mới đào. Mỗi lúc, chú thấy mình càng thêm choáng váng.
Gần đó có một quán ăn, trong quán đang có đám cưới. Nghe tiếng
nhạc, chú bé cứ ngỡ mình đã lên tới thiên đàng. Sau đó chú lim đi
hoàn toàn. Chú bé không bao giờ tỉnh lại nữa, hơi rượu nóng và
sương đêm giá buốt làm chú chết thật. Chú mãi mãi ở lại nơi chú đã
nằm xuống.
Tên nhà giàu nghe tin chú bé chết sợ lắm, hắn chỉ lo bị tòa án
xét xử. Hắn lo sợ quá ngã xuống đất ngất đi. Mụ vợ khi ấy đang
rang lúa mạch dưới bếp vội chạy lên tìm cách chạy chữa cho chồng.
Nào ngờ ngọn lửa bốc vào lòng chảo, rồi cháy lan ra khắp nhà. Vài
giờ sau chỉ còn lại một đống tro tàn. Những năm cuối cùng của đời
họ, cả hai người đều bị lương tâm cắn rứt và sống rất nghèo nàn cực
khổ.
Các em có thấy chú bé nghèo đáng thương không? Chú bé chịu
rất nhiều khổ cực đến nỗi chú phải tìm đến cái chết nhưng tên nhà
giàu phải ân hận suốt đời.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Những người khôn
Một hôm, một bác nông dân rút ở xó nhà ra chiếc gậy gỗ trăn
rồi bảo vợ:
- Này nhà ạ, tôi đi ba ngày nữa mới về đấy. Nếu lái bò có đến
mua ba con bò nhà ta, thì nhà bán rẻ cũng được, nhưng phải lấy hai
trăm đồng, kém thì đừng có bán nghe chưa.
Vợ đáp:
- Nhà cứ việc đi đi, cầu trời phù hộ. Tôi ở nhà sẽ làm đúng lời
nhà dặn.
- Chà! Khi nhà còn bé đã có lần ngã đập đầu xuống đất, đến giờ
vẫn còn bị ảnh hưởng. Nhưng tôi dặn nhà nhớ, nếu nhà làm gì dớ
dẩn, tôi về sẽ đánh cho thâm tím mình mẩy bằng chiếc gậy tôi đang
cầm trong tay đây này, đến một năm cũng vẫn còn vết lằn, tôi nói
không ngoa đâu.
Nói rồi bác ta đi.
Sáng hôm sau, lái bò đến. Bác gái cũng không phải nói nhiều
lời. Hắn xem bò xong, hỏi giá rồi nói:
- Tình giá ấy được thôi, thật là giá chỗ bà con. Để tôi mang bò
đi ngay.
Hắn tháo dây buộc, lùa bò ra khỏi chuồng. Khi hắn dắt bò ra
khỏi sân thì bác gái nắm lấy tay áo hắn bảo:
- Bác phải đưa tôi hai trăm đồng đã, không thì tôi không để cho
đi đâu.
Lái bò đáp:
- Được, được thôi. ấy tôi quên không mang theo hầu bao.
Nhưng bác đừng lo. Bác cứ yên chí, thế nào tôi cũng trả sòng phẳng.
Này nhé, tôi mang đi hai con bò thôi, còn con thứ ba tôi để lại làm
tin.
Bác gái cho việc ấy là minh bạch, để cho tên lái mang bò đi và
òng. Bỗng gi
- Thầy nó thấy mình khôn ngoan thế chắc là mừng lắm đấy.
Đến ngày thứ ba, bác nông dân đúng hẹn về nhà, hỏi ngay xem
bò đã bán chưa. Bác gái đáp:
- Dĩ nhiên là bán rồi, thầy nó ạ. Mà như thầy nó dặn, bán đúng
hai trăm đồng. Bò nhà mình thì cũng chẳng đáng giá ấy đâu, nhưng
bác lái thuận mua luôn, chẳng cò kè gì cả.
Bác trai hỏi:
- Thế tiền đâu?
- Tôi chưa cầm. Bác lái quên mang theo hầu bao nhưng bác ấy
mang lại ngay đấy. Bác ấy có để vật làm tin rất chắc chắn.
Bác trai hỏi:
- Của tin gì thế?
- Bác ấy để lại đây một trong ba con bò làm tin, trả tiền xong
mới dắt nốt đi. Tôi khôn lắm, thầy nó ạ! Tôi giữ lại con bé nhất vì
nó ăn ít nhất.
Bác trai tức quá, giơ gậy lên định cho bác gái một trận đòn như
bác đã bảo trước. Nhưng rồi bác lại hạ gậy xuống nói:
- Bu mày thật là ngu như bò, ngu nhất trần đời này. Nhưng tôi
thương hại bu nó quá. Thôi để tôi đi ba ngày nữa xem có gặp ai ngu
đần hơn bu mày không. Nếu gặp, thì sẽ tha cho bu mày. Nếu không
gặp thì tôi nhất định cho bu mày một trận đòn nên thân.
Bác đi theo đường cái rồi ngồi trên một hòn đá, đợi xem sự việc
ra sao. Bác thấy một chiếc xe đi tới. Trên xe chỉ có một người đàn
bà đứng chứ không ngồi trên đống rơm ở ngay trên xe mà cũng
không đi bộ dắt bò bên xe. Bác nghĩ bụng đây hẳn là người ngu đần
mình đang tìm, liền nhảy xuống và chạy loăng quăng trước xe y
như người mất trí.
Người đàn bà bảo bác:
- Ơ bác kia! Tôi có quen biết gì bác đâu? Bác ở đâu đến đây?
Bác nông dân đáp:
- Tôi ở trên trời rơi xuống đấy. Không biết làm cách nào lên trời
lại được. Bác có đưa tôi lên được không?
Người kia đáp:
- Không được đâu. Tôi có biết đường đâu. Nếu bác ở trên trời
xuống thì bác làm ơn cho tôi hỏi thăm nhà tôi ra sao. Thầy nó đã
chầu trời được ba năm nay. Chắc là bác có gặp thầy nó nhà tôi.
- Có, có tôi có gặp bác trai. Lẽ dĩ nhiên là mọi người không phải
ai nấy đều ổn cả đâu. Bác trai chăn cừu cũng lôi thôi rắc rối lắm, nó
nhảy lên núi, nó lạc vào bãi hoang, bác trai cứ phải luôn đi tìm để
hợp đàn. Quần áo mắc vào bụi rậm rơi từng mảnh, phơi cả da thịt
ra. Trên ấy không có tuyết, thánh Pêtrut không cho ai vào, như bà
nghe chuyện cổ tích đã biết đấy.
Người đàn bà kêu lên:
- Chết chưa, có ai ngờ đâu nông nỗi ấy! Để tôi đi lấy bộ quần áo
ngày chủ nhật còn treo trong tủ ở nhà, để thấy nó mặc cho lịch sự.
Nhờ bác làm ơn mang giúp cho thầy nó nhé!
Bác nông dân đáp:
- Không được đâu. Không thể mang quần áo lên trời được đâu.
Đến cổng trời là bị thu đấy.
- Này bác ạ, hôm qua tôi bán chỗ lúa tôi được khá tiền muốn
gửi lên cho thầy cháu. Nếu bác giấu tiền hộ vào túi chắc chẳng ai
biết đâu.
- Cũng được thôi! Để tôi giúp bác.
Bác kia nói:
- Thế bác ngồi đợi đây, tôi cho xe về nhà lấy tiền rồi trở lại
ngay. Ấy tôi không ngồi trên đống rơm, mà đứng trên xe để cho bò
kéo đỡ nặng đấy.
Bà ấy thúc bò đi.
Bác nông dân nghĩ bụng:
- Bà này hẳn có máu dở người. Nếu bà ta về lấy tiền thật thì
may cho mẹ đĩ nhà mình khỏi bị trận đòn.
Một lát sau, bà ta mang tiền chạy tới nhét vào túi bác. Trước
khi đi, bà ta còn đa tạ lòng tốt của bác mãi.
Bà về nhà thì gặp con trai ở ngoài đồng về. Bà liền kể cho con
gặp chuyện bất ngờ như thế nào và bảo:
- Mẹ mừng là gặp may gửi được cho thầy mày ít quà. Có ai ngờ
được là ở trên trời mà cũng còn bị thiếu thốn!
Con ngạc nhiên quá bảo:
- Mẹ ạ, ít khi có người ở trên trời rơi xuống như thế. Để con đi
ngay xem có gặp không. Để hỏi bác ta xem trên ấy ra sao, làm ăn
thế nào.
Anh ta đóng yên ngựa vội vã ra đi. Anh thấy bác nông dân
đang ngồi ở gốc cây liễu, định đếm tiền trong hầu bao. Anh gọi to
hỏi:
- Bác có gặp người ở trên trời rơi xuống không?
Bác nông dân đáp:
- Có, bác ta lại đi về rồi, bác ta trèo lên đỉnh núi kia để đi cho
gần. Anh chịu khó phi ngựa thì đuổi kịp đấy.
Anh thanh niên nói:
- Chà! Tôi làm suốt ngày, vất vả, lại phi ngựa đến đây thì mệt
lử rồi. Bác biết người ấy, bác làm ơn cưỡi ngựa này đến nói khéo cho
người ấy thuận lại đây hộ.
Bác nông dân nghĩ bụng gã này cũng lại tàng tàng. Bác bảo:
- Thôi thì để tôi giúp cậu vậy!
Bác trèo lên ngựa phóng nước đại.
Gã thanh niên ngồi đợi đến đêm cũng không thấy bác nông dân
trở về. Anh nghĩ bụng chắc là người kia vội vã về trời nên không
muốn quay lại và bác nông dân đã đưa cả ngựa cho người ấy mang
cho bố mình rồi. Anh quay về kể lại chuyện cho mẹ, nói là đã gửi
ngựa cho bố để bố khỏi phải đi bộ. Mẹ bảo:
- Con làm thế là phải. Con có đôi chân còn vững, đi bộ cũng
được.
Bác nông dân về đến nhà, nhốt ngựa vào chuồng cạnh con bò
giữ làm tin. Bác bảo vợ:
- Bu mày ạ! Bu mày may lắm nhé! Tôi gặp hai người còn ngu
đần hơn cả bu mày cơ. Lần này, tôi tha đánh bu mày, để dành dịp
khác.
Rồi bác châm điếu hút thuốc, ngồi vào chiếc ghế bành tứ đại và
bảo:
- Thật là món bở. Đổi hai con bò còm lấy một con ngựa béo, lại
thêm một hầu bao đầy tiền. Nếu ngu đần mà lại như thế này thì
mình cứ là trọng ngu đần mãi.
Bác nông dân nghĩ vậy, nhưng hẳn là các bạn còn thích những
người đần độn hơn.
Các em nghĩ sao về người bác nông dân? Chúng ta không nên
cư xử như người nông dân kia bởi vì không thiếu cách để kiểm tra
xem thiên hạ có ai ngu hơn vợ ông ta không, việc đi lừa người thật
thà và dại dột là vô lương tâm. Các em sẽ xử lý như thế nào nếu các
em là bác nông dân kia?
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Chú Hanxơ sung sướng
Hanxơ đi ở đã được bảy năm. Một hôm, chú thưa với chủ:
- Thưa ông, tôi ở với ông đã hết hạn rồi, xin ông trả tiền công
cho tôi để tôi về nhà với mẹ.
Chủ đáp:
- Chú đã hầu hạ ta hết lòng. Vậy ta cứ tùy công mà thưởng cho
chú.
Chủ cho Hanxơ một khối vàng to bằng cái đầu chú.
Hanxơ rút khăn tay trong túi ra bọc vàng vác trên vai lên
đường về nhà. Hanxơ đang đi lững thững thì gặp một người hớn hở
cưỡi một con ngựa phóng tới. Hanxơ nói bô bô:
- Chà! Cưỡi ngựa hay chắc thú lắm: ngồi trên mình ngựa như
ngồi trên ghế bành, không vấp vào sỏi, đỡ hại giày, đi cứ băng băng.
Người cưỡi ngựa nghe tiếng, dừng ngựa lại hỏi chú:
- Thế sao chú lại đi bộ?
- Đó là sự bất đắc dĩ. Tôi hiện mang về nhà một khối vàng,
nhưng đi cứ phải cúi đầu vì nó nặng trĩu cả vai.
- Nếu chú thích thì chúng ta đổi nhau: tôi đưa chú con ngựa,
chú đưa tôi khối vàng nhé.
Tôi rất đồng ý, nhưng tôi bảo cho anh biết trước rằng khối vàng
của tôi nặng đấy. Rồi anh đến lê ra đường thôi.
Người kia xuống ngựa, cầm lấy vàng và giúp Hanxơ lên yên.
Sau khi trao dây cương cho Hanxơ, người ấy bảo:
- Muốn ngựa chạy nhanh thì phải tắc lưỡi và nói: "Hốp! Hốp!".
Hanxơ ngồi trên mình ngựa, không phải mang nặng nữa,
khoan khoái lắm. Một lúc sau, chú chợt có ý nghĩ cho ngựa chạy
nhanh hơn. Chú liền tắc lưỡi kêu: "Hốp! Hốp!" để thúc ngựa. Ngựa
bèn tế nước đại; Hanxơ không kịp trở mình, bị quật xuống hố bên
vỉa đường.
Nếu không gặp một bác nông dân đang xua một con bò cái giữ
ngựa lại thì ngựa cứ thế phóng mãi.
Hanxơ lồm cồm bò dậy, mình mẩy thâm tím. Chú buồn bã nói
với người dắt bò:
- Cưỡi con ngựa kiểu này nó lắc nó quăng mình xuống đất, có
phen gãy cổ. Khó chơi lắm. Từ nay tôi xin chừa... Tôi thích bò của
bác hơn: có thể ung dung đi sau nó, mà ngày nào cũng được sữa, bơ,
pho mát ăn. Ước gì tôi được con bò như của bác!
Bác nông dân nói:
- Nếu chú thích bò thì tôi đổi bò cho chú, tôi lấy ngựa.
Hanxơ mừng lắm đồng ý. Người kia lên ngựa, phóng đi.
Hanxơ ung dung đánh bò đi, hớn hở về việc đổi chác hời.
- Giờ mà có miếng bánh, mà hẳn bánh mì thì mình chẳng bao
giờ lo thiếu, tha hồ mà ăn với bơ và pho mát. Lúc nào khát, thì chỉ
việc vắt sữa bò uống. Ta còn ước gì hơn nữa!
Đến một quán hàng, Hanxơ dừng lại và trong lúc cao hứng,
chén sạch cả lương thực mang theo để ăn bữa trưa và bữa tối. Còn
ít tiền, chú dốc nốt ra mua nửa cốc bia.
Đánh chén xong, chú lại đuổi bò đi về phía quê mẹ.
Càng gần trưa, trời càng nóng. Hanxơ phải qua một bãi hoang
dài, đi mất đến hơn một tiếng. Chú thấy nóng quá, khô cả mồm.
Chú nghĩ: "Ta đã có cách: vắt sữa bò uống". Chú buộc bò vào
thân một cây khô. Chú không có gầu, bèn lấy mũ ra để hứng sữa.
Chú loay hoay mãi mà chẳng được giọt nào. Chú lúng ta lúng túng,
bò sốt ruột quá đá thốc cho một cái vào đầu, chú loạng choạng ngã
lăn ra bất tỉnh hồi lâu.
May sao vừa lúc ấy có một người đồ tể xe một con lợn con qua
đó. Bác ta kêu lên:
- Chà chà! Bị vố đau nhỉ!
Rồi bác đỡ Hanxơ dậy.
Hanxơ kể lại sự tình. Bác đồ tể đưa cho Hanxơ một cái chai và
bảo:
- Uống lấy một hớp cho lại người. Bò của chú đã già, kiệt sữa
rồi, chỉ còn cách là cho đi kéo xe hay là đem thịt thôi.
Hanxơ vò đầu vò tai than:
- Khổ quá! Nào ai có ngờ! Bò này mà mang về nhà làm thịt thì
tuyệt. Thịt ngon biết mấy! Nhưng tính tôi không thích ăn thịt bò
mấy, không được ngọt. Chà! Giá được con lợn non béo tốt như thế
kia thì ngon cha chả là ngon, ấy là chưa kể đến dồi.
Bác đồ tể nói:
- Này chú, chiều ý chú, tôi bằng lòng đổi cho chú lấy bò.
Hanxơ nói:
- Bác tốt bụng quá. Trời phù hộ cho bác.
Chú trao bò, cởi lợn ở xe xuống dòng dây dắt đi, vừa đi vừa
mừng thầm gặp mọi sự như ý, mắc phải cái gì cũng gỡ được ngay.
Chú lại gặp một gã cắp con ngỗng trắng đẹp. Hai bên chào hỏi
nhau. Hanxơ kể cho gã nghe chú gặp may thế nào, lần nào đổi chác
cũng được hời.
Gã kia nói là y đem con ngỗng đi làm lễ rửa tội.
Gã nắm cánh ngỗng nói tiếp:
- Chú nhắc mà xem ngỗng có béo không. Vỗ trong hai tháng
trời đấy. Ngỗng này quay ăn thì lúc cắn mỡ phọt ra cả hai bên mép.
Hanxơ nhắc thử con ngỗng, rồi nói:
- Anh nói đúng đấy, nhưng lợn của tôi cũng chẳng tồi đâu.
Gã kia lắc đầu, ngơ ngác nhìn quanh, rồi nói:
- Này chú, việc con lợn xem ra mờ ám đấy. Ông lý ở làng mà tôi
vừa đi qua mới mất con lợn. Tôi e rằng... con lợn ấy hiện đang ở
trong tay chú. Người ta đã cho đi tìm khắp nơi, nếu họ tóm được
chú dắt đúng con lợn ấy thì nguy cho chú, ít nhất chú cũng bị giam
vào ngục tối.
Hanxơ run sợ nói:
- Trời ơi, làm sao thoát cơn hoạn nạn được. Anh ở đây thông
hiểu tình hình, thôi anh lấy con lợn, đưa cho tôi con ngỗng.
Gã kia nói:
- Nếu đổi như vậy thì thật là liều, nhưng tôi thật quả không
đành lòng để chú bị tai họa.
Rồi gã cầm lấy dây đuổi con lợn đi theo đường tắt.
Còn Hanxơ, con người tốt bụng, thì tay cắp ngỗng, bụng hết lo,
cứ thế về quê.
Chú nghĩ bụng:
"Kể ra thì mình đổi chác cũng vẫn có lợi: nào là thịt quay ngon,
nào là mỡ ăn được ba tháng với bánh mì, nào là lông trắng muốt
tuyệt đẹp để nhồi gối, ngủ êm như ru. Mẹ sẽ mừng lắm đấy!".
Khi đi qua làng bên, Hanxơ thấy một người thợ mài dao, vừa
quay đá vừa hát:
Tôi mài kéo, phiến đá mài của tôi quay tít.
Tôi mắc áo tay tôi theo chiều gió.
Hanxơ dừng lại xem, rồi nói:
- Vừa mài vừa hát vui vẻ như thế, chắc là sung sướng lắm nhỉ?
- Chứ còn gì nữa! Nghề tôi là nghề hái ra tiền. Người thợ mài
giỏi lúc nào sờ vào túi cũng có tiền. Thế nhưng mà chú mua con
ngỗng đẹp kia ở đâu?
- Nào tôi có mua đâu! Tôi đổi lợn đấy.
- Thế lợn?
- Tôi đã đổi bò cái lấy lợn đấy.
- Thế bò cái?
- Tôi đã đổi một con ngựa lấy bò cái đấy.
- Thế ngựa?
- Tôi đã đổi một khối vàng to bằng đầu tôi lấy ngựa đấy.
- Thế vàng?
- Tôi đi ở bảy năm được ngần ấy vàng đấy.
- Chú kể cũng đã kéo xoay xở đấy, nhưng giá trong túi lúc nào
cũng loảng xoảng tiền thì mớí thật là sung sướng.
- Làm thế nào được như vậy?
- Muốn thế chú phải làm nghề mài dao như tôi. Chỉ cần có
phiến đá mài, còn đồ lặt vặt khác thì dễ kiếm thôi. Tôi còn vừa vặn
một viên đá mài, mẻ mất một tí, nhưng thôi, cứ đưa tôi con ngỗng là
được. Chú có đồng ý không?
- Còn phải hỏi làm gì? Trong túi lúc nào cũng có tiền là sướng
nhất trần gian, còn ao ước gì hơn nữa?
Hanxơ liền đổi ngỗng lấy đá mài.
Người thợ mài nhặt ở ngay gần đấy thêm một hòn đá thường
nữa khá nặng, đưa cho Hanxơ mà nói:
Đây tôi thêm cho chú hòn đá này tốt lắm, để làm đe tha hồ mà
đập: có thể để đinh cũ cong lên đó mà giọt cho thẳng. Chú bê cẩn
thận mà mang đi nhé.
Hanxơ mừng rỡ, mắt sáng lên, quẩy đá ra đi nghĩ bụng:
- Trời cho ta cái số trăm sự đều may, cứ như đứa trẻ sinh đúng
ngày lành tháng tốt vậy.
Nhưng hôm đó, Hanxơ dậy từ lúc sớm tinh sương nên cảm thấy
mệt nhọc. Bụng lại cồn cào vì khi chú ăn mừng đổi được bò đã ăn
hết cả lương thực.
Hanxơ mang đá nặng lê không được. Bước một bước lại dừng
một bước. Chú chỉ mong không phải vác gì là sướng. Như con ốc bò,
chú men đến cái suối định nghỉ một tí và uống ít nước lạnh. Chú
đặt đá cẩn thận bên bờ suối, cạnh người, cúi xuống uống nước. Bỗng
chú vô ý đụng vào đá, cả hai hòn đều rơi tòm xuống đáy nước. Thấy
vậy chú mừng quýnh.
Hanxơ reo lên:
- Sướng quá đi mất, trên trần gian không có ai sướng bằng ta.
Được trút hết gánh nặng, bụng thênh thênh, chú vui bước đi về
nhà mẹ.
Câu chuyện cho ta thấy có người không quan niệm vật chất,
tiền bạc là sung sướng mà là sự thanh thản, nhẹ nhàng. Có thể chỉ
có chú Hanxơ trong truyện mới làm như vậy các em ạ!
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Người da gấu
Xưa có một anh thanh niên đi lính, rất dũng cảm, luôn luôn
xung phong đi dưới mũi tên hòn đạn. Trong thời chiến, mọi việc đều
ổn, nhưng đến thời bình, anh bị thải hồi. Tên đại úy chỉ huy bảo
anh tùy muốn đi đâu thì đi. Cha mẹ chết cả, quê hương không có,
anh phải đến xin các anh cho ở nhờ, đợi đến khi nào có chiến chinh.
Nhưng các anh đều nhẫn tâm nói:
- Chúng tôi không thế giúp chú được, chú phải tự lo liệu lấy
thôi.
Anh lính có độc một khẩu súng, vác lên vai ra đi - anh đến một
bãi đất hoang rộng, chỉ có mỗi một lùm cây. Anh buồn bã ngồi
xuống gốc cây, nghĩ tủi thân: "Mình không có tiền, chỉ biết nghề đi
lính, nay thiên hạ thái b´nh, chúng đuổi mình về, trông chừng chết
đói đến nơi".
Chợt nghe tiếng động, anh ngoảnh lại thấy bên mình có một
người lạ mặt, mặc ao xanh, trông lịch sự, chỉ phải có một cái chân
ngựa ghê tởm. Người ấy nói:
- Ta biết anh thiếu gì rồi. Anh cần bao nhiêu tiền ta cũng cho,
nhưng trước hết muốn biết anh có thật là tay gan dạ hay không vì
ta không muốn tiêu uổng tiền.
Anh đáp:
- Đã làm lính lại còn nhát à? Ông cứ việc thử thách tôi đi.
- Được lắm, anh hãy trông lại đằng sau.
Người lính ngoảnh lại thì thấy một con gấu to gầm gừ chạy
đến.
Anh thét:
- Ái chà, ông ngoáy cho mày buồn loa mũi, để mày hết càu
nhàu nhé.
Rồi anh ngắm bắn trúng mũi gấu, gấu ngã lăn ra.
Người lạ mặt nói:
- Ta công nhận anh gan dạ, nhưng còn điều kiện khác nữa.
Người lính biết rõ tay này là quỷ, bèn đáp:
- Muốn điều kiện gì cũng được, miễn là không mất phần hồn.
Người áo xanh nói:
- Cái đó tùy anh xem. Trong bảy năm, cấm anh sờ đến nước,
chải đầu cạo râu, cắt móng chân móng tay, cầu chúa; phải mặc
chiếc áo ngoài là chiếc áo khoác ta đưa cho đây. Trong thời gian đó,
nếu anh chết thì anh là người của ta; nếu anh sống thì anh được tự
do và giàu có suốt đời.
Người lính nghĩ đến thân mình cũng khổ, đã bao phen vào sinh
ra tử, nên cũng nhận liều - con quỷ cởi áo xanh đưa cho anh và nói:
- Anh mặc áo này thì lúc nào trong túi cũng có vàng.
Rồi nó lột da gấu và nói:
- Da gấu này, anh sẽ trùm lên áo khoác và làm giường nằm,
không được nằm giường nào khác - Từ nay anh mặc áo này, nên ta
đặt tên anh là "Da gấu".
Nói xong con quỷ biến mất.
Người lính mặc áo, thò tay vào túi lấy tiền thì biết là con quỷ
nói đúng. Anh bèn khoác da gấu, đi chu du thiên hạ, hưởng mọi thú
vui, không bỏ qua cái gì khoái trá, tiêu tiền như rác.
Năm đâu, người anh trông còn tàm tạm được, nhưng đến năm
thứ hai, trông anh như một con quái; tóc che gần khắp mặt, râu
xồm xoàm như chổi xể, móng chân móng tay y như nanh vuốt, mặt
cáu ghét giá làm đất trồng rau cũng được. Ai thấy anh cũng tránh;
nhưng anh đi đến đâu người ta vẫn xếp chỗ cho, vì anh trả nhiều
tiền và anh vung tiền ra làm phúc cho người nghèo để người ta cầu
nguyện cho anh được sống qua thời hạn bảy năm.
Năm thứ tư anh đến một quán trọ. Chủ quán không muốn cho
anh trọ, thậm chí chuồng ngựa cũng không cho ở, e rằng ngựa thấy
anh thì cũng khiếp. Thế nhưng khi "Da gấu" móc ở túi ra một nắm
tiền vàng thì chủ quán xiêu lòng, cho anh ở một buồng phía sau,
nhưng cấm anh không được ló mặt ra cho người khác trông thấy để
quán trọ của hắn bị mang tiếng.
Một buổi tối, Da Gấu, đang ngồi trong buồng, mong mỏi bảy
năm chóng qua, thì nghe thấy tiếng khóc ở buồng bên cạnh. Anh
vốn tốt bụng, chạy ra mở cửa thì thấy một cụ già tay ôm đầu khóc
lóc thảm thiết. Da Gấu đến gần cụ già. Khi thấy anh, cụ đứng phắt
dậy định chạy trốn. Nhưng nghe thấy anh nói tiếng người, cụ mới
yên tâm. Da Gấu ngọt ngào dỗ cụ, cụ kể lể cho anh nghe là cụ đã
tiêu hết vốn liếng, bây giờ cụ và ba cô con gái lâm vào cảnh nghèo
khổ. Cụ không có tiền trả nhà trọ nên bị người ta bỏ tù.
Da Gấu nói:
- Nếu chỉ có vấn đề tiền, thì cháu có thừa thãi để giúp cụ.
Anh cho gọi chủ quán đến, trả tiền trọ cho ông cụ, lại cho ông
cụ đáng thương một túi vàng đầy.
Thế là ông cụ hết lo, nhưng không biết lấy gì trả ơn. Cụ nói:
- Anh hãy đến nhà tôi. Các con gái tôi rất đẹp, anh muốn lấy
đứa nào thì lấy. Nếu nó biết anh là ân nhân của tôi thì tất cả không
từ chối đâu. Tuy anh trông có vẻ kỳ quặc thật, nhưng nó sẽ biết chải
chuốt cho anh trông dễ coi.
Da Gấu thích lắm, đi theo cụ già.
Cô gái lớn trông thấy anh, khiếp sợ hú lên và chạy trốn. Cô thứ
hai không chạy, nhìn anh từ đầu đến chân rồi nói:
- Con chịu thôi, ai lại lấy một con vật không thấy mặt người
làm chồng được? Gấu cạo lông, mặc áo như người ở đám xiếc hôm
nọ còn thích hơn, vì ít nhất nó cũng được diện áo kỵ binh và đeo bao
tay trắng. Trông nó chỉ xấu xí, nhưng rồi cũng quen mắt.
Cô gái út nói:
- Thưa cha, người đã cứu cha trong lúc hoạn nạn hẳn là người
tốt. Nếu cha hứa trả ơn mà gả con gái cho người ta, thì cha phải giữ
lời hứa.
Tiếc thay mặt Da Gấu bẩn thỉu và lông lá, nên nhìn không
thấy vẻ vui mừng đang tràn ngập lòng anh. Anh rút nhẫn ở ngón
tay, bẻ làm đôi, đưa cho người yêu một nửa. Anh khắc tên anh vào
nửa đưa cho nàng, dặn nàng giữ kỹ. Còn nửa anh giữ, thì anh khắc
tên người yêu. Khi từ giã người yêu anh dặn:
- Em ơi, anh còn phải đi chu du thiên hạ ba năm nữa. Nếu anh
về thì chúng ta sẽ tổ chức cưới nhau. Nếu anh không về thì anh đã
chết, em được tự do đi lấy chồng khác.
Dặn xong anh ra đi.
Cô dâu đáng thương mặc đồ tang. Mỗi khi nghĩ đến anh, cô lại
giàn giụa nước mắt; còn hai chị thì dè bỉu mỉa mai cô.
Chị lớn nói:
- Cẩn thận kẻo mà nát mất tay khi nó giơ cẳng bắt tay đấy.
Chị thứ hai nói:
- Liệu đấy. Gấu thích của ngọt; nếu nó thích cô, nó sẽ xơi cô
mất.
Chị cả nói:
- Nhất nhất cô phải chiều ý nó, không thì nó càu nhàu đấy!
Chị thứ hai lại nói:
- Đám cưới sẽ vui lắm nhỉ. Gấu là nhảy múa giỏi.
Cô em mặc cho hai chị nói, không hề nao núng chút nào.
Còn Da Gấu thì vẫn lang thang đây đó làm điều thiện, bố thí
cho người nghèo rất nhiều.
Ngày cuối cùng năm thứ bảy, Da Gấu lại đến ngồi ở lùm cây
giữa bãi hoang. Một lát sau anh nghe thấy gió ào ào rồi con quỷ
hiện lên hầm hầm nhìn anh. Nó vứt trả anh chiếc áo cũ và đòi anh
chiếc áo xanh.
Da Gấu nói:
- Hẵng gượm, anh hãy phải tắm rửa cho tôi sạch sẽ đã.
Bất đắc dĩ con quỷ phải lấy nước tắm rửa cho Da Gấu và chải
đầu, cắt móng cho Da Gấu. Da Gấu nom lại là một chiến sĩ anh
dũng và đẹp trai hơn trước nhiều.
Khi con quỷ đi xa, anh thấy mình như trút được một gánh
nặng. Anh ra tỉnh mua một chiếc áo nhung đẹp, rồi ngồi một cỗ xe
bốn ngựa trắng đi về nhà vợ. Không ai nhận ra anh. Ông bố vợ
tưởng anh là một võ quan cao cấp, đưa anh vào buồng ba cô con gái.
Hai cô chị ngồi hai bên, mời anh ngồi giữa, rồi rót rượu, lấy món
ngon nhất mời anh. Hai cô nghĩ bụng chưa nhìn thấy người đàn ông
nào đẹp trai như anh. Còn cô em mặc tang phục, ngồi trước mặt
anh, cúi gầm mặt xuống không nói năng gì cả. Khi anh ướm hỏi ông
cụ có thuận gả một cô cho anh không, thì hai cô chị đứng phắt dậy,
chạy vào buồng sắm sửa, vị nào cũng tưởng mình được chọn làm vợ.
Khi người khách lạ còn lại một mình với cô em, thì người ấy lấy
nửa cái nhẫn trong túi ra, bỏ vào một cốc đầy rượu vang và đưa cốc
mời cô. Cô đỡ lấy cốc uống cạn và khi thấy nửa cái nhẫn ở đáy cốc,
cô hồi hộp quá lấy nửa nhẫn đang đeo ở cổ ra, chắp với nửa kia thì
thấy ăn khớp như in.
Da Gấu liền nói:
- Em ơi, anh là chồng chưa cưới của em đây mà. Trước kia anh
đội lốt gấu đến đây, nay anh lại mang hình người, sạch sẽ như xưa.
Rồi anh ôm lấy cô hôn.
Bấy giờ hai cô chị ăn mặc thật sang bước vào. Khi rõ chuyện
công tử đẹp trai này là Da Gấu khi trước, hai cô tức giận vùng vằng
bỏ đi.
Các em đã bao giờ nhìn thấy gấu chưa? Nếu các em đã nhìn
thấy rồi thì các em sẽ hiểu tại sao các cô chị lại từ chối lấy gấu. Vậy
mà cô út đã dũng cảm lấy anh gấu để trả ơn cứu mạng cha cô. Cô
con gái út là người con rất có hiếu nên cô xứng đáng được hưởng
hạnh phúc.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Bác nông dân và con quỷ
Xưa có một bác nông dân khôn ngoan ranh mãnh, mẹo vặt của
bác thì không sao kể hết được. Lý thú nhất là chuyện bác có lần lừa
được cả quỷ.
Một hôm, trời xẩm tối, bác cày ruộng xong, sửa soạn về nhà thì
thấy ở trên mảnh ruộng của mình một đống than hồng. Bác lấy làm
lạ đến gần thì thấy một con quỉ nhỏ đen xì ngồi trên lửa.
Bác bảo:
- Mày ngồi trên đống của đấy à?
Quỷ đáp:
- Đúng rồi, ngồi trên đống của, chú mày suốt đời chưa thấy
nhiều vàng bạc đến thế đâu!
Bác nông dân nói:
- Của cải trên đất của ta là thuộc về ta.
Quỷ đáp:
- Ừ, nó thuộc về chú mày, nếu chú mày làm ruộng hai vụ, hoa
lợi được bao nhiêu chú mày chịu chia cho ta một nửa. Tiền thì ta có
khối, ta chỉ thèm có ít hoa lợi thôi.
Bác nông dân nhận lời, bảo:
- Để sau này chia nhau khỏi lôi thôi, mày sẽ lấy cái gì mọc ở
trên mặt đất, tao sẽ lấy cái gì mọc ở dưới.
Quỷ đồng ý. Bác nông dân đa mưu trồng củ cải. Đến mùa bới củ
cải, quỷ hiện lên để lấy phần hoa lợi của mình thì chỉ thấy rặt có lá
úa vàng, còn bác nông dân thì được bới củ, thích chí lắm.
Quỷ bảo:
- Thôi được, chú mày đã lừa được ta một chuyến, chuyến sau
thì đừng có hòng. Cái gì mọc trên mặt đất thì chú mày lấy, còn ta sẽ
lấy cái gì mọc ở dưới.
Bác nông dân đáp:
- Thế cũng được.
Đến mùa, bác không trồng củ cải nữa mà gieo lúa. Lúa chín,
bác ra đồng cắt lúa gần sát đất. Quỷ đến thấy chỉ có gốc rạ tức quá
chui xuống vực.
Bác nông dân nói:
- Ấy đối với cáo già thì phải cho một vố như thế.
Rồi bác đi lấy của.
Bằng hình ảnh của một bác nông dân thông minh, lanh lợi, câu
chuyện đã ca ngợi trí thông minh của con người. Trong mọi hoàn
cảnh khó khăn, con người luôn vươn lên để chiến thắng các thế lực
đen tối, ác độc. Qua đó ta thấy được sự mong muốn vươn lên để
khám phá, cải tạo thiên nhiên của con người.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Cỗ quan tài thủy tinh
Xưa có một anh thợ may, dáng người nhanh nhẹn, tính tình dễ
thương. Anh đi tập nghề, đến cánh rừng kia vì không biết đường
nên bị lạc. Tối đến, giữa chốn hoang vu lạnh lẽo ấy, anh chỉ còn
cách cố tìm ra một chỗ trú thân. Nằm trên đám rêu mềm mà ngủ
thì quả có khoái, nhưng lại sợ thú dữ. Sau cùng anh quyết định leo
lên cây. Anh chọn một cây sến thật cao, leo lên tận ngọn. Gió thổi
ào ào trên ngọn cây như muốn cuốn anh đi.
Anh run rẩy ngồi trong bóng tối thế khoảng vài giờ. Chợt anh
nhìn thấy ánh đèn ở cách đấy không xa lắm. Anh nghĩ bụng: "Chắc
có nhà, đến nhất định tối hơn ở trên mấy cái cành này". Anh cẩn
thận tụt xuống đi lại phía ánh đèn. Anh đến một ngôi nhà nhỏ,
ghép toàn lau sậy. Anh mạnh dạn gõ cửa. Cửa mở, anh thấy dưới
ánh đèn một ông già dáng người nhỏ bé, tóc hoa râm, mặc cái áo
chắp hàng trăm mụn vải màu sắc sặc sỡ. Ông cụ cất giọng khàn
khàn hỏi:
- Anh là ai, đến có việc g´?
Anh đáp:
- Tôi chỉ là một người thợ may nghèo, gặp tối giữa rừng, xin cho
trú nhờ đêm nay.
Ông cụ xẵng giọng quát:
- Bước ngay đi chỗ khác mà xin trọ, ta không muốn dây với
những đứa cầu bơ cầu bất.
Nói xong ông cụ định quay vào. Nhưng anh thợ may đã kịp túm
lấy áo của cụ, van nài rất tha thiết. Ông cụ vốn không phải người ác
như đã cố tình làm ra mặt, cũng mủi lòng và đồng ý cho anh vào.
Cụ lại cho anh ăn và dọn cho anh một cái ổ rơm tươm tất ở góc nhà.
Anh thợ mệt quá chẳng cần đợi ai ru, đánh một giấc thẳng cho
đến sáng. Giá như không có tiếng huyên náo đánh thức anh thì
chưa chắc anh đã dậy. Tiếng kêu, tiếng trống inh ỏi từ bên ngoài lọt
qua vách mỏng vào nhà. Không biết sao anh thợ may lúc ấy lại bạo
thế. Anh nhảy phắt dậy, mặc vội quần áo rồi xông ra. Anh thấy
ngay gần nhà có con bò rừng đen đang đánh nhau dữ dội với một
con hươu đẹp. Hai con vật quần nhau rung chuyển cả mặt đất;
tiếng rống, tiếng kêu rền trời. Đánh đã lâu mà không phân biệt
được thắng bại. Sau cùng hươu húc rõ mạnh vào bụng đối thủ. Bò
rống lên khủng khiếp, rồi quì xuống. Hươu bồi thêm mấy sừng nữa,
bò chết hẳn.
Anh thợ may thấy hai con vật đánh nhau, lạ lắm. Anh còn
đang đứng đờ ra đấy, thì hươu đã xông thẳng vào chỗ anh. Nó
không để anh kịp chạy, xốc anh lên cặp sừng lớn. Anh chưa kịp
nghĩ gì, nó đã lao vun vút qua cây, qua đá, qua thung lũng, qua bãi,
qua rừng. Anh chỉ còn biết cố nắm lấy cặp sừng cho vững, phó mặc
số phận và thấy mình như bay bổng. Sau cùng hươu dừng lại trước
một vách đá, đoạn hất anh xuống.
Anh thợ may, phần chết nhiều hơn phần sống, lúc lâu sau mới
tỉnh. Đợi anh nghỉ một lúc, con hươu từ nãy vẫn đứng bên mới lấy
sừng húc mạnh vào một cái cửa trong vách đá. Cửa bật tung. Lửa
từ trong hắt ra, tiếp đấy hơi nước nghi ngút che lấp cả hươu. Anh
không biết làm thế nào, hướng về đâu để thoát được cảnh địa ngục
mà trở về trần gian. Anh còn đang hoang mang, bỗng nghe trong
vách có tiếng gọi:
- Vào đây, đừng sợ, không hại người đâu!
Anh còn run thật, nhưng như có sức mạnh vô hình thúc giục,
anh đẩy cổng sắt bước vào. Bên trong có gian phòng rất lớn. Trần,
vách, nền nhà hết thảy đều lát đá vuông vắn, nhẵn thín, phiến nào
cũng khắc một dấu hiệu rất kỳ lạ. Anh kinh ngạc lắm, ngắm mãi.
Anh vừa định bước vào thì nghe thấy tiếng gọi lần thứ hai:
- Hãy lại chỗ phiến đá ở giữa phòng, có vận may rất lớn đang
chờ ngươi.
Anh thêm mạnh dạn, làm theo lời dặn. Phiến đá dưới chân anh
bắt đầu chuyển động rồi từ từ tụt sâu xuống. Lúc nó đứng lại, anh
thợ may thấy mình đang ở trong một gian phòng khác, cũng rộng
như gian trên. Nhưng ở đây càng có nhiều thứ kỳ lạ hơn. Tường đục
nhiều lỗ, trong xếp những bình pha lê trong suốt đựng rượu màu
hoặc chứa một thứ khói xanh biêng biếc. Trên nền nhà, kê hai cái
hòm thủy tinh đối mặt nhau khiến anh càng tò mò. Anh lại xem
một cái, thấy trong là mô hình một tòa nhà rất đẹp, kiểu lâu đài,
quanh đủ hết nhà phụ, nhà kho, chuồng gia súc và nhiều thứ khác
nữa. Mọi vật đều bé nhỏ, xinh xắn, làm rất công phu, phải là bàn
tay tài nghệ chính xác cao độ mới tạo nên được.
Anh còn đang mải xem vật báu không chán mắt thì lại có tiếng
gọi, anh quay lại xem hòm thứ hai. Anh kinh ngạc biết bao khi thấy
trong ấy là một người con gái đẹp tuyệt vời. Nàng nằm im như ngủ,
suối tóc tơ vàng tựa như một cái áo khoác cực kỳ quí giá quấn
quanh người. Đôi mắt nhắm nhưng sắc mặt vẫn hồng và hơi thở
nhịp nhàng vẫn nhẹ rung một dải băng, chứng tỏ nàng còn sống.
Anh còn đang ngắm người đẹp, trống ngực rộn ràng bỗng thấy cặp
mắt nàng hé mở. Người con gái đã thấy anh, cô gái giật mình mừng
lắm. Cô kêu lên:
- Trời, ta sắp thoát rồi! Hãy mau giúp em ra khỏi cái ngục này.
Chỉ cần chàng tháo chốt quan tài là em ra được.
Anh bình tĩnh làm theo lời dặn. Nắp quan tài được nạy lên,
người đẹp đi ra góc phòng lấy một tấm áo choàng khoác lên người.
Đoạn nàng ngồi xuống một phiến đá, gọi chàng lại, hôn môi chàng
rất âu yếm và bảo:
"n nhân ơi, em đợi chàng từ lâu rồi. Lòng trời đức độ đã khiến
chàng đến đây cứu em. Chàng là người chồng mà trời định sẵn cho
em. Chàng là người yêu của em, là chủ mọi của cải trên đời này.
Chàng sẽ sống vô cùng êm ấm và hạnh phúc. Chàng hãy ngồi nghe
em kể chuyện. Em vốn là con một hầu tước rất giàu. Bố mẹ em đã
chết từ khi em còn nhỏ tuổi. Lúc trăng trối bố mẹ em có giao em lại
cho người anh lớn nuôi dạy. Hai anh em ăn ở hòa thuận, từ ý nghĩ
đến sở thích đều giống nhau, nên cả hai đã nhất quyết không lập
gia đình riêng để sống bên nhau đến trọn đời. Trong nhà không
mấy khi ngơi khách. Xóm giềng bè bạn đến luôn và ai cũng được hai
anh em ân cần quý mến. Bỗng một tối kia, có người khách lạ phi
ngựa đến lâu đài. Hắn nói là không thể đến kịp trạm sau được nữa,
xin cho ngủ nhờ. Hai anh em bằng lòng, đãi hắn rất hậu. Tối, ba
người vừa ăn vừa trò chuyện, hắn kể chuyện rất tài. Anh em thích
quá mới nói hắn ở thêm vài hôm nữa. Hắn từ chối lấy lệ rồi nhận
lời. Mãi khuya mới ăn xong, người lạ được đưa về phòng. Còn em
lúc ấy đã quá mệt nên cũng về buồng riêng ngủ.
"Em vừa chợp mắt bỗng lại tỉnh, nghe vẳng có tiếng nhạc du
dương, quyến rũ. Em không hiểu được tiếng nhạc từ đâu đến nên
định gọi con hầu ở phòng bên. Nhưng lạ thay có trái núi đè lên ngực
em, họng em cũng như bị bóp nghẹt, muốn kêu mà không thốt ra
được tiếng nào. Trong khi ấy, dưới ánh đèn khuya em thấy rõ gã lạ
mặt bước vào, mặc dầu hai lần cửa vẫn khóa. Gã hóa phép ra tiếng
nhạc nọ để đánh thức em, rồi gã chui qua lỗ khóa vào, gã muốn tỏ
tình cùng em. Thấy quá ghê tởm phép yêu ấy của gã, em không
thèm đáp. Gã đứng lúc lâu, có muốn đợi tình hình thay đổi lợi hơn.
Nhưng em vẫn im lặng. Gã nổi giận dọa sẽ trả thù. Gã bảo gã có
cách trị sự kiêu kỳ của em, xong gã bỏ ra ngoài. Suốt đêm lo quá,
mãi đến gần sáng mới chợp mắt. Sáng dậy, em định chạy sang
phòng anh em để kể các chuyện, nhưng không thấy anh đâu nữa.
Người hầu cho biết anh em đã cưỡi ngựa đi săn cùng người lạ mặt
từ tờ mờ sáng.
"Em cảm thấy ngay là có tai họa, vội thay xiêm áo, sai thắng
ngựa thật nhanh, rồi đem một người hầu theo, thúc cho ngựa phi
nước đại vào rừng. Giữa đường, người hầu bị ngã ngựa què một
chân, nên không thể theo em được nữa. Mình em phóng ngựa đi
tiếp và mấy phút sau thì thấy gã kia, tay cầm sợi thừng buộc cổ một
con hươu đẹp, đi lại. Rõ ràng lúc ấy mắt hươu mở to đương ngấn lệ.
Gã không trả lời em mà chỉ cười rộ lên. Em giận quá, rút khẩu súng
ngắn bên người ngắm con quỷ ấy bắn một phát. Nhưng đạn chạm
ngực nó rồi lại bật lại, trúng ngực em. Em ngã nhào xuống, thấy gã
lẩm bẩm câu gì đo rồi em ngất đi.
"Lúc tỉnh lại em thấy mình đang nằm trong cỗ quan tài thủy
tinh ở một cái hầm. Thằng yêu đạo kia xuất hiện lần nữa, nó bảo nó
đã biến anh em thành một con hươu. Tòa lâu đài của em với cả cơ
nghiệp đã bị nó hóa phép thu nhỏ lại, giam vào một hòm thủy tinh
khác, gia nhân cũng bị nó biến ra khói hết, nhốt trong các bình.
Nếu em chiều lòng nó, nó sẽ giải phép cho ngay, không khó. Nó chỉ
cần mở nắp bình và nắp hòm là các vật lại nguyên hình ngay.
Nhưng cũng như khi trước, em không thèm đáp. Nó bỏ đi, để em
nằm lại ở trong ngục này trong giấc ngủ triền miên. Nhưng lúc hồn
phách mơ màng, cũng có khi em thấy một chàng trai đến cứu mình.
Hình ảnh ấy an ủi em nhiều, và hôm nay lúc em hé mắt thấy anh,
tức là giấc mơ kia đã thành sự thật. Chàng hãy giúp em thực hiện
nốt phần tiếp của giấc mơ kia. Trước tiên chúng ta hãy khuân cái
hòm thủy tinh có lâu đài trên phiến đá lớn này".
Hai người khiêng hòm lên phiên đá. Nó từ từ chuyển, đưa họ
vượt miệng hầm lên tầng trên, từ đấy có lối ra ngoài rất dễ. Ra
ngoài rồi, người con gái mở nắp hòm và thật kỳ lạ: lâu đài, nhà cửa,
sân vườn cứ to dần ra rất nhanh, chẳng mấy chốc bằng thật. Họ lại
quay xuống hầm dưới khuân nốt các bình lên. Người con gái tháo
nắp bình, khói bay biến thành người sống, gia nhân của họ lại đông
đủ như trước. Cỏ cây lại hớn hở khi thấy cô đã trừ được yêu đạo,
người anh bị hóa thành hươu cũng trở lại hình người và từ trong
rừng đi ra, sung sướng với hạnh phúc của em gái.
Ngày hôm ấy, đám cưới được tổ chức như lời cô đã hứa. Cô lấy
anh thợ may.
Câu chuyện kể về sự may mắn tình cờ của anh chàng thợ săn,
qua đó nói lên sự khao khát tự do, hạnh phúc của những con người
bình dị.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét