Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015

Truyện cổ Grim Phần 4

Truyện cổ Grim

Cuộc ngao du của tí hon

                         Một bác thợ may có đứa con trai, người chỉ bằng ngón tay cái,
vẫn gọi là Tí hon. Tí hon rất can đảm. Một hôm nó thưa bố:
- Bố ơi, con phải đi ngao du thiên hạ một phen mới được!
Ông bố già đáp:
- Được thôi, con ạ!
Bác lấy cái kim thêu, hơ lên ngọn nến, đính một cái núm bằng
xi vào đó rồi đưa cho con, bảo:

- Đây cho con thanh kiếm đi đường.
Tí hon còn muốn ăn với bố mẹ bữa nữa, nên nó nhảy xuống bếp
xem mẹ nó nấu gì. Nhưng nồi vừa mới đặt lên bếp, Tí hon hỏi mẹ:
- Mẹ ơi, có gì ăn thế?
Bà mẹ bảo:
- Con hãy ngó vào xem.
Nhảy tót lên bếp, vươn cổ dòm vào nồi. Nó vươn mãi cổ vào sâu
quá, hơi thức ăn bay nghi ngút cuốn luôn nó lên ống khói. Nó ngồi
ngất ngưởng trong đám hơi, cứ thế lơ lửng mãi trên không, lúc lâu
sau mới rơi xuống.
Thế là chú bé con bác thợ may có dịp đi ngao du thiên hạ. Chú
đi đây đi đó, rồi đến xin tập việc một người thợ cả. Nhưng ở đây họ
cho chú ăn chẳng được ngon. Chú nói với bà chủ nhà:
- Bà chủ ạ, bà không chịu cho tôi ăn khá hơn thì nhất định tôi
sẽ đi. Sáng mai tôi sẽ lấy phấn viết ngay trước cửa nhà:
Khoai khá nhiều, thịt khá ít,
Thưa đức vua khoai, tôi xin vĩnh biệt.
Bà chủ giận lắm, quát:
- Con chấu ranh kia, mày còn muốn gì hử?
Bà rút cái giẻ lau, định quất chú. Nhưng chú đã mau lẹ bò lên
cái bao ngón tay của bà, rồi từ trên đó chú dòm xuống, thè lưỡi nhạo
bà. Bà tháo bao định chộp chú thì chú lại tót sang cái giẻ mất rồi.
Thừa lúc bà giũ giẻ tìm chú, chú trốn luôn xuống kẽ bàn. Chú thò
đầu lên, giễu bà:
- Ê! Bà chủ ơi!
Lúc bà sắp đánh, chú lẩn xuống ô kéo. Nhưng rồi bà cũng tóm
được và tống chú ra khỏi cửa.
Tí hon lại đi lang thang. Đến cánh rừng kia, chú gặp kẻ trộm
đang bàn nhau đi ăn trộm của vua. Chợt thấy Tí hon, bọn kẻ trộm
sực nghĩ: "Thằng nhãi ranh này nhất định chui lọt lỗ khóa, có thể
dùng nó thay chìa khóa giả được đây".
Một tên gọi:
- Này, ông khổng lồ Gôliat ơi, có muốn nhập với bọn mình đến
kho của báu không? Ông có thể chui vào ném tiền ra cho bọn này.
Tí hon nghĩ một lát rồi bằng lòng nhận. Chú đi với chúng. Đến
nơi, chú ngắm kỹ cửa trên, cửa dưới xem có cái kẽ nào không. Tìm
hồi lâu thấy một khe hở, cũng khá rộng, đủ cho chú lọt qua. Chú đã
sắp chui vào thì bị một tên lính canh cửa nhìn thấy. Nó bảo tên kia:
- Xem kìa, có con nhện gớm ghiếc đương bò kia kìa. Tao phải
dẫm chết nó mới được!
Tên kia can:
- Thôi mặc nó, kẻo tội nghiệp. Nó có làm gì mày đâu!
Thế là Tí hon lọt được vào trong kho. Chú mở cửa sổ chỗ bọn kẻ
trộm đợi rồi nhặt tiền ném ra, cứ từng đồng một. Đương lúc mê mải
chợt có tiếng chân vua vào soát kho. Tí hon vội chuồn ngay. Vua
soát, biết là có nhiều đồng tiền dày đã bị mất nhưng không thể hiểu
kẻ nào đã lấy, vì lẽ then khóa vẫn y nguyên không có chút dấu hiệu
suy chuyển.
Vua đành ra lệnh cho hai tên lính:
- Bay phải coi chừng, có kẻ rình lấy tiền đấy!
Lúc Tí hon tiếp tục hoạt động thì bọn lính đứng ngoài rình
nghe thấy tiếng vàng rơi xủng xoẻng. Chúng vội nhảy vào kho để
bắt kẻ trộm. Nhưng Tí hon nhanh hơn, đã tót được vào một xó,
khuân một đồng tiền lấp lên mình. Chú trêu bọn lính:
- Tớ đây cơ mà!
Lúc bọn lính xô tới thì chú lại chuồn sang xó khác, léo nhéo gọi:
- Này, tớ đây cơ mà!
Bọn lính đến thì chú đã sang xó thứ ba từ lâu rồi. Chú lại gọi:
- Này, tớ đây kia mà!
Cứ thế, Tí hon dử cho hai tên lính chạy quanh đến mệt lử và
phải bỏ cuộc. Chú tiếp tục ném tiền ra ngoài cho bọn trộm hết đồng
này đến đồng khác. Còn lại đồng cuối, chú ra sức quăng mạnh, đoạn
nhảy liền theo, cưỡi tiền bay vút qua cửa sổ.
Bọn trộm hết lời tán tụng chú:
- Quả là tay anh hùng! Chú có muốn là chủ tướng không?
Tí hon cảm ơn. Chú nói, chú còn muốn đi ngao du thiên hạ đã.
Bọn trộm chia nhau số tiền. Tí hon chỉ lấy phần mình có một đồng,
vì có lấy nữa chú cũng chẳng mang nổi.
Chú buộc lại thanh kiếm bên sườn, chào bọn cướp rồi ra đi.
Chú đến nhà mấy bác thợ cả nữa xin làm. Nhưng ở đâu cũng chóng
chán. Sau cùng chú đến làm cho một quán trọ. Đám hầu gái nhà
này không ai ưa chú, chỉ vì họ không nhìn thấy chú, thế mà ai bí
mật làm gì chú đều biết hết. Chú lại hay mách chủ những chuyện
họ ăn uống vụng trộm, hoặc ăn cắp dưới hầm. Họ vẫn đe:
- Liệu hồn! Thế nào cũng có bữa cho mày chết đuối.
Họ bảo nhau xỏ Tí hon một vố. Một hôm, chú đương mải miết
nhảy nhót, leo trèo giữa đám cỏ dại ngoài vườn thì bị một cô hầu ra
cắt cỏ bắt gặp. Tiện tay cô vơ luôn cả Tí hon với cỏ, buộc túm vào
một cái khăn lớn rồi ném cho bò. Một con bò mộng đen nuốt chửng
Tí hon vào bụng. Chú không bị đau đớn gì nhưng nằm trong ấy thật
khó chịu quá, tối như bưng. Đợi lúc có người vào vắt sữa, chú ra sức
gào: Tơrip, torắp, torôn! Sắp đầy thùng chưa?
Tiếng sữa tia rào rào, át mất tiếng chú nên không ai nghe thấy.
Lát sau, chủ quán vào bảo:
- Mai thịt con bò này!
Tí hon sợ quá, lại gân cổ gào:
- Thả tôi ra đã, tôi ở trong này mà!
Chủ quán nghe thấy, nhưng không biết ai gọi ở đâu. Bác hỏi
lại:
- Ở đâu thế?
Tí hon vội đáp:
- Trong bụng con đen ấy mà!
Chủ quán không hiểu nghĩa câu nói, bỏ đi.
Sáng hôm sau, họ thịt con bò đen. Cũng may lúc họ hạ bò rồi xả
thịt, không có nhát dao nào chém phải Tí hon. Chú bị lẫn trong
đống thịt để tra dồi. Lúc người thợ băm dồi vào sắp làm, chú ra sức
bình sinh gào:
- Đừng băm sâu quá! Đừng băm sau quá! Tôi ở dưới đấy!
Nhưng vì dao băm đã gỗ rộn lên nên chẳng ai nghe được tiếng
chú gọi. Giờ mới thật nguy cho chú, nhưng thói thường có khó mới
ló cái khôn, chú nhảy tránh rất tài giữa các đường dao, khiến chẳng
một nhát nào chạm được vào người chú. Chú thoát chết. Tuy thế,
chú vẫn chưa nhảy ra ngoài được. Chú bị họ tra lẫn với miếng mỡ
vào một khoanh dồi tiết. Trong khoanh dồi chật chội quá, đã thế họ
lại còn mắc lên ống khói lò bếp để hun cho kỹ. Tí hon thấy thời gian
lúc này mới dài làm sao!
Nhưng rồi cũng đến mùa đông, họ tháo khoanh dồi xuống. Nhà
có khách, họ định đem dồi đãi khách. Lúc bà chủ thái dồi, sợ lưỡi
dao xoẹt ngang một nhát. Chờ lúc thuận lợi, chú lấy hơi nhảy tót ra
ngoài.
Chú không muốn ở lại nhà ấy nữa, nơi chú đã phải chịu bao
điều đen đủi. Tí hon lại đi giang hồ. Nhưng cuộc đời tự do của chú
cũng chẳng được bao lâu nữa. Chú đang lang thang giữa đồng thì
chạm trán phải một con cáo, nó đớp luôn chú. Chú vội van nài:
- Bác cáo ơi, tôi đấy mà, chả bõ cuống họng bác, chi bằng bác
thả tôi ra!
Cáo đáp:
- Mày nói cũng có lý. Ăn mày cũng như không ăn gì. Mày hứa
cho tao mấy con gà ở nhà bố mày đi, tao sẽ thả.
Tí hon đáp:
- Tôi rất sẵn lòng, nhà có bao nhiêu gà sẽ xin tạ bác hết.
Cáo bèn thả chú ra, lại thân đưa chú về nhà. Ông gặp lại con
mừng quá, nhà có bao nhiêu gà biếu cáo tất.
Tí hon đưa cho bố đồng tiền vàng mà chú đã kiếm được trong
chuyến đi vừa rồi.
- Con có đồng tiền rất đẹp để đến cho bố đây này. Nhưng sao bố
lại chịu để cáo nó thịt hết cả đàn gà con của nhà?
- Ôi, thằng ngốc! Con là đứa con đẻ đứt ruột của bố, lý nào bố
lại quí đàn gà ngoài sân hơn cả con trai.
Các em đã bao giờ phải xa bố mẹ chưa? Chắc là chưa đâu nhỉ!
Các em sẽ gặp rất nhiều rắc rối khi phải xa rời bố mẹ mình. Qua
câu truyện này các em học được một điều: không ở đâu sung sướng,
hạnh phúc hơn là được ở bên cạnh bố mẹ mình.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Mười hai người thợ săn

                         Ngày xưa có một vị Hoàng tử yêu vợ chưa cưới tha thiết. Một
hôm, chàng đang ngồi bên nàng rất đỗi sung sướng thì nhận được
tin cha ốm sắp chết muốn gặp mặt chàng trước khi nhắm mắt.
Chàng liền bảo người yêu:
- Anh phải từ biệt em đi ngay. Anh tặng em chiếc nhẫn này
làm kỷ niệm. Mai sau anh lên ngôi vua rồi, anh sẽ trở lại đón em.
Chàng lên ngựa ra đi. Khi chàng về gặp vua cha thì vua ốm
thập tử nhất sinh sắp chết đến nơi. Vua cha phán:
- Con yêu dấu ạ. Cha muốn nhìn mặt con một lần cuối cùng
trước khi chết. Con phải hứa với cha là sau khi cha chết đi, con sẽ
lấy vợ theo ý muốn của cha.
Rồi vua cho chàng biết tên một nàng công chúa mà chàng phải
lấy làm vợ. Trong lúc choáng váng cả người, Hoàng tử không suy
nghĩ gì, chỉ thưa:
- Thưa cha, con sẽ làm theo như ý cha.
Nhà vua, nhắm mắt từ trần.
Hoàng tử lên ngôi vua. Hết thời gian tang lễ chàng phải giữ lời
hứa với cha cho đi hỏi nàng công chúa ấy và được nàng nhận lời.
Người vợ chưa cưới đầu tiên của chàng được tin đó buồn bao vì bị
phụ tình ốm suýt chết.
Cha nàng liền hỏi nàng:
- Con yêu dấu, làm sao con buồn rầu thế? Con ước muốn gì, cha
cũng cho.
Nàng nghĩ một lúc rồi nói:
- Thưa cha, con mong ước có mười một thiếu nữ từ mặt mũi,
hình dáng, vóc người đều giống con y hệt.
Vua cha nói:
- Nếu là điều có thể làm được thì điều ước của con nhất định sẽ
thành sự thật.
Vua sai người đi tìm trong khắp nước kỳ cho đến khi được đủ
mười một thiếu nữ giống con gái mình y hệt, từ mặt mũi hình dáng,
đến khổ người.
Khi các thiếu nữ có đến trước công chúa, nàng cho may mười
hai bộ quần áo đi săn y hệt nhau, cho mười một cô mặc vào, chính
nàng cũng mặc một bộ. Sau đó, nàng từ biệt vua cha, cùng họ lên
ngựa đi đến triều đình của người chồng chưa cưới cũ mà nàng đã
yêu tha thiết.
Nàng đến hỏi xem nhà vua có cần thợ săn và có muốn mượn cả
mười hai người không?
Vua nhìn nàng nhưng không nhận ra được. Vua thấy họ đẹp
quá nên đồng ý mượn cả. Thế là họ thành mười hai người thợ săn
của nhà vua.
Nhà vua vốn có một con sư tử. Đó là con vật kỳ lạ biết hết mọi
điều bí ẩn. Một buổi tối nó nói với nhà vua:
- Bệ hạ đinh ninh là có mười hai người thợ săn phải không?
Vua bảo:
- Đúng, đó là mười hai người thợ săn.
Sư tử lại nói tiếp:
- Bệ hạ lầm rồi, đó là mười hai thiếu nữ đấy.
Vua đáp:
- Nhất định không đúng. Người làm thế nào chứng minh được
việc ấy!
Sư tử đáp:
- Ồ dễ thôi, bệ hạ chỉ việc rải đỗ vào phòng thì biết ngay. Đàn
ông bước mạnh nên khi giẫm lên đỗ thì không hạt nào động đậy,
nhưng phụ nữ bước thì thoăn thoắt lại hay xoay chân, hạt đỗ sẽ lăn
đi.
Vua khen là kế hay, cho rắc hạt đỗ.
Nhưng có người hầu nhà vua có lòng tốt đối với những người
thợ săn, nghe thấy nói nhà vua nhất định thử họ, liều đi kể cho biết
hết và bảo:
- Sư tử nó muốn mách nhà vua rằng các người là gái cả đấy.
Công chúa cảm ơn bác ta rồi bảo các cô thiếu nữ:
- Các em cố sức giẫm mạnh lên các hạt đỗ nhé.
Sáng hôm sau nhà vua truyền mười hai người thợ săn đến
phòng có rải hạt đỗ. Các cô thiếu nữ cố giẫm thật mạnh, bước đi của
họ khỏe và chắc đến nỗi không một hạt đỗ nào lăn hoặc chuyển
động, sau khi họ đi khỏi, nhà vua bảo sư tử:
- Mày đánh lừa tao rồi, chúng đi chắc bước, đó là đàn ông.
Sư tử đáp:
- Vì biết là bị thử thách nên họ đã gắng đi cho chắc bước. Bệ
hạn cứ để mười hai chiếc guồng kéo kéo sợi vào phòng, họ sẽ mừng
rỡ và xán lại ngay, đàn ông thì không bao giờ thế.
Nhà vua cho là kế hay, bèn sai để guồng kéo sợi vào phòng.
Nhưng người hầu vốn thật thà với những người thợ săn, đến
nói lộ cho họ biết hết mưu kế. Công chúa bảo riêng mười một thiếu
nữ: "Các em cố nhịn đừng có ngó tới guồng kéo sợi nhé". Sáng hôm
sau vua cho triệu mười hai người thợ săn đến, họ vào phòng không
chú ý gì đến guồng sợi.
Vua lại bảo sư tử:
- Mày đánh lừa tao. Đúng là đàn ông rồi, vì chúng không nhìn
gì đến guồng kéo sợi.
Sư tử đáp:
- Họ biết là bị thử thách nên cố nhịn đấy.
Nhưng vua nhất định không tin sư tử nữa.
Ngày nào mười hai người thợ săn cũng theo vua đi săn, càng
ngày vua càng yêu quí họ. Một hôm trong khi họ đi săn, thì được tin
vợ chưa cưới của nhà vua sắp tới. Người vợ chưa cưới chính thức
nghe vậy đâu khổ quá. Tim bị nhói lên ngã lăn xuống đất bất tỉnh
nhân sự.
Vua tưởng là người thợ săn yêu quí của mình bị làm sao vội
chạy lại cứu... Vua lại tháo bao tay ấy thì thấy chiếc nhẫn mình đã
tặng cho người vợ chưa cưới thứ nhất. Vua nhìn mặt nhận ra nàng.
Lòng vua hồi hộp, vua hôn nàng lúc nàng mở mắt, vua bảo:
- Em là của anh, anh là của em. Thiên hạ không ai thay đổi
được điều ấy.
Vua phái sứ giả đến gặp người vợ chưa cưới kia xin nàng quay
về nước vì vua đã có vợ rồi. Ai đã tìm thấy chiếc chìa khóa cũ thì
không cần đến chiếc mới nữa.
Sau đó hôn lễ được cử hành. Sư tử được tha tội, vì quả là nó nói
đúng sự thật.
Câu truyện ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người con gái và tình
yêu bất diệt. Với tình yêu chân chính, con người luôn tìm được hạnh
phúc dài lâu.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Ba sợi tóc vàng của quỷ

                         Ngày xưa, ở một làng kia, có một người đàn bà nghèo sinh được
một đứa con trai. Khi nó ra đời, người ta tiên tri là năm mười bốn
tuổi, nó sẽ lấy được công chúa. Vào lúc đó, nhà vua vi hành qua
làng, không một ai biết. Vua hỏi trong làng có sự gì lạ không, thì
dân làng tâu:
- Gần đây có một đứa trẻ mà người ta tiên tri là năm mười bốn
tuổi, nó sẽ lấy được công chúa.
Nhà vua vốn độc ác nghe nói như vậy tức lắm, liền đến ngay
nhà bố mẹ đứa trẻ, giả vờ thân mật bảo:
- Các bác nghèo khó, hãy giao con cho tôi để tôi chăm sóc nó
cho.
Hai vợ chồng nhà kia trước con từ chối, sau thấy người lạ mặt
đưa cho nhiều vàng, nghĩ bụng: "Con mình là đứa tốt số. Như thế
lại hay cho nó", nên cuối cùng bằng lòng trao con.
Vua đặt đứa trẻ vào một cái hòm, cưỡi ngựa tới một chỗ nước
sâu, ném hòm xuống, nghĩ thầm: "Thế là con gái ta thoát khỏi tay
anh chàng rể bất đắc dĩ này".
Nhưng cái hòm không chìm, cứ nổi như một chiếc tàu nhỏ,
nước không thấm vào một giọt. Hòm trôi lềnh bềnh cách kinh kỳ
hai dăm, đến cửa cổng một cối xay thì bị mắc lại. May lúc đó có
thằng bé xay bột trông thấy, lấy móc kéo vào. Nó tưởng trong có
của, nhưng khi mở ra thì thấy một đứa bé khỏe mạnh, khôi ngô. Nó
mang đứa trẻ về cho chủ. Hai vợ chồng này không có con, nên mừng
lắm.
Họ hết sức chăm sóc, đứa bé hay ăn chóng lớn.
Một hôm, tình cờ vua vào nhà xay để tránh mưa. Vua hỏi vợ
chồng người xay bột có phải gã thanh niên cao lớn là con trai họ
không.
Họ đáp:
- Tâu bệ hạ không phải, đó là đứa trẻ nhặt được cách đây mười
bốn năm. Nó nằm trong một cái hòm trôi dạt tới cửa cổng, thằng bé
xay bột nhà chúng tôi đã vớt nó lên.
Vua nghĩ thầm chắc là đứa bé tốt số mà mình đã vứt xuống
nước trước kia, bèn nói:
- Này ta muốn nhờ gã này mang một lá thư đến cho hoàng hậu,
có được không? Ta sẽ thưởng cho hai đồng vàng.
Bố mẹ nuôi vâng lệnh bảo gã chuẩn bị đi.
Vua viết thư cho hoàng hậu nói: "Khi gã thanh niên mang thư
này đến, thì giết nó ngay và chôn nó đi. Phải thi hành mệnh lệnh
này trước khi ta về".
Chàng thanh niên cầm thư lên đường, nhưng đi lạc đến một
khu rừng to. Trong đêm tối, chàng thấy một ánh đèn, lại gần thì là
một cái nhà nhỏ.
Chàng vào nhà thấy một bà lão ngồi một mình bên bếp lửa. Bà
lão thấy chàng, hoảng sợ hỏi:
- Con ở đâu đến? Con đi đâu?
- Con ở nhà xay đến. Con phải mang thư đến cho hoàng hậu,
nhưng bị lạc trong rừng. Con muốn xin ngủ lại đêm nay ở đây.
- Tội nghiệp! Con lạc vào nhà kẻ cướp rồi. Chúng về thì chúng
sẽ giết con.
- Thôi, muốn ra sao thì ra. Cháu chẳng sợ. Vả lại cháu mệt quá,
không đi được nữa đâu.
Chàng nằm lên ghế dài ngủ.
Lát sau bọn cướp về, tức giận hỏi gã thanh niên nào ngủ đó.
Bà lão nói:
- Trời ơi! Thằng bé có tội tình gì đâu! Nó lạc vào rừng, tôi
thương tình cho nó vào đây. Nó phải mang thư cho hoàng hậu đấy.
Bọn cướp bóc dấu niêm phong thư thấy nói là phải giết ngay
người mang thư này. Bọn cướp tuy nhẫn tâm mà cũng động lòng,
tên tướng cướp xé tan lá thư đó, viết lá thư khác đại ý nói phải gả
công chúa ngay cho chàng thanh niên mang thư này đến. Họ để cho
chàng ngủ yên đến sáng. Sáng hôm sau, họ giao thư cho chàng và
chỉ đường cho đi.
Hoàng hậu nhận được thư, theo lệnh tổ chức đám cưới linh
đình, gả công chúa cho chàng tốt số.
Chú rể đẹp trai và tốt nết, công chúa sống với chồng hạnh phúc
lắm.
Sau đó ít lâu, vua về, thấy lời tiên tri đã thành sự thật, đứa bé
tốt số đã lấy con mình, bèn nói:
- Chẳng hiểu sao lại thế, trong thư ta ra lệnh khác cơ mà.
Hoàng hậu lấy thư đưa vua xem. Vua thấy thư đã bị đánh tráo,
bèn hỏi con rể thư cũ đâu, sao lại đánh tráo thư khác.
Chàng đáp:
- Tâu bệ hạ, con không biết. Chắc ban đêm con ngủ trong rừng,
thư đã bị đánh tráo.
Vua tức giận nói:
- Như thế không ổn. Muốn lấy con ta thì phải xuống âm phủ
nhổ ba sợi tóc vàng của con quỉ đem về nộp ta. Nếu người làm nổi
thì vẫn được phép làm chồng con ta.
Vua định làm như thế để tống khứ chàng thanh niên đi.
Nhưng chàng đáp:
- Con không sợ quỉ, con sẽ lấy được tóc vàng về.
Chàng bèn cáo từ vua ra đi.
Khi chàng đến một thành phố lớn, lính canh hỏi chàng làm
nghề gì và biết những gì.
Chàng đáp:
- Gì cũng biết.
Lính canh nói:
- Thế anh bảo giùm chúng tôi tại sao giếng ở chợ chúng tôi
trước kia luôn chảy ra rượu vang, mà nay lại cạn hẳn đi, đến một
giọt nước cũng không còn.
Chàng nói:
- Chờ khi tôi về, tôi sẽ bảo cho biết.
Chàng lại đi, đến một thành phố khác. Lính canh cũng hỏi
chàng làm nghề gì và biết những gì.
Chàng lại đáp:
- Gì cũng biết.
Lính canh nói:
- Thế anh bảo giùm chúng tôi biết tại sao trong thành chúng tôi
có cây táo trước kia ra quả vàng mà nay đến một chiếc lá cũng
không còn?
Chàng lại đáp:
- Chờ tôi về, tôi sẽ cho biết.
Chàng lại đi, đến một con sông lớn.
Người lái đò hỏi chàng làm nghề gì và biết những gì.
Chàng đáp:
- Gì cũng biết.
Người lái đò nói:
- Thế anh bảo giùm tôi biết tại sao tôi cứ phải chở đò qua lại
trên khúc sông này không có ai thay.
Chàng đáp:
- Để khi trở về tôi sẽ bảo cho biết.
Qua sông đến bến, chàng thấy cửa âm phủ tối om, ám khói.
Con quỉ đi vắng. Ở nhà chỉ có một bà già ngồi trong một chiếc ghế
bành rộng. Bà không có vẻ ác. Bà hỏi:
- Cháu muốn g´?
- Cháu muốn lấy ba sợi tóc của con quỉ, nếu không thì mất vợ.
- Kể thì quá đấy. Nếu con quỉ về mà thấy cháu ở đây thì chắc
chắn là cháu mất đầu. Nhưng thôi, ta thương hại cháu, để xem có
cách nào giúp cháu không.
Bà làm phép cho chàng biến ra kiến và bảo:
- Cháu hãy bò vào trong áo ta thì mới toàn tính mệnh được.
- Vâng, quí hóa quá, nhưng con còn muốn biết ba điều:
"Một là tại sao giếng nước trước kia chảy ra rượu vang, nay
bỗng cạn hẳn, không còn một giọt nước?
Hai là tại sao cây táo kia trước có quả táo vàng mà giờ không
có đến một cái lá?
Ba là tại sao bác lái đò kia cứ phải chở đò mãi, không có ai
thay".
Bà già nói:
- Ba câu hỏi này khó thật, nhưng cháu cứ yên tâm, lắng tai
nghe con quỉ nói khi ta nhổ ba sợi tóc vàng của nó nhé.
Đến tối con quỉ về nhà. Vừa vào cửa, nó đã ngờ ngợ thấy mùi gì
lạ. Nó nói:
- Quái, ta ngửi như có mùi thịt người ở đây, có phải không?
Bà lão chế nó:
- Tôi vừa quét dọn ngăn nắp, bây giờ anh lại lục tung cả ra. Lúc
nào mũi anh cũng chỉ ngửi thấy mùi thịt người. Thôi ngồi xuống ăn
đi.
Ăn uống xong, con quỉ thấy mền mệt, tựa đầu vào gối bà già và
bảo bà bắt chấy cho. Được một lát, nó thiu thiu ngủ rồi ngáy khò
khò. Bà già nhổ một sợi tóc vàng của nó, để bên mình.
Con quỉ hỏi:
- Ái chà, bà làm gì thế?
Bà lão nói:
- Tôi mộng thấy sự không lành, nên tôi đã nắm tóc anh đấy.
Con quỉ hỏi:
- Bà mộng thấy gì?
- Tôi nằm mộng thấy giếng ở chợ trước kia thường chảy ra rượu
vang, nay cạn hẳn, đến một giọt nước cũng không còn? Tại sao thế?
Con quỉ đáp:
- Chà! Nếu biết thì đã chẳng nên chuyện. Dưới tảng đá ở đáy
giếng có một con cóc. Đem giết nó đi thì rượu vang lại chảy ra.
Bà lão lại bắt chấy cho con quỉ. Quỉ lại ngủ, Ngáy rung cả cửa
kính. Bà già lại nhổ một sợi tóc nữa.
Quỉ cáu, nói:
- Ô hay, làm gì thế?
Bà lão đáp:
- Anh đừng giận nhé, tôi lại mộng đấy mà.
- Lại mộng gì nữa thế?
- Tôi thấy ở một nước nọ có một cây táo trước kia thường vẫn ra
quả vàng mà nay đến một cái là cũng chẳng còn. Tại sao thế?
- Chà! Nếu biết thì đã chẳng nên chuyện. Có một con chuột
nhắt gặm rễ cây. Giết nó đi thì cây lại ra quả vàng. Nếu để chuột
gặm mãi thì cây đến chết mất. Nhưng thôi, đừng có mơ mộng gì nữa
nhé, để cho tôi ngủ yên, nếu còn làm tôi thức giấc, tôi sẽ tát cho
đấy.
Bà lão dỗ dành con quỉ, rồi lại bắt chấy cho nó. Nó lại ngủ và
ngáy. Bà nhổ sợi tóc vàng thứ ba của nó.
Con quỉ chồm dậy, kêu lên và toan đánh bà, nhưng bà lại nói
ngọt rằng:
- Khốn nỗi cứ mộng mãi thì biết làm thế nào?
Con quỉ tò mò hỏi:
- Bà còn mộng thấy gì nữa?
- Tôi chiêm bao thấy có một người lái đò than phiền là cứ phải
chở đò qua lại mãi mà không có người thay. Tại sao thế?
Quỉ đáp:
- Ngốc quá. Nếu có ai muốn qua sông, thì hắn chỉ việc trao mái
chèo cho người ấy là thoát, và người kia sẽ chở đò thay hắn thôi.
Sau khi đã nhổ ba sợi tóc vàng của con quỉ và đã được nghe nó
trả lời ba lần, bà già để cho nó ngủ đến sáng.
Con quỉ bước chân ra khỏi cửa, thì bà liền bắt con kiến ở trong
nếp áo bà ra, hóa phép biến nó lại thành người.
Bà lão nói:
- Đây ba sợi tóc vàng đây, còn ba câu trả lời của con quỉ thì
cháu nghe được rõ rồi chứ?
Chàng đáp:
- Vâng, cháu đã nghe rõ rồi, cháu sẽ nhớ kỹ.
Bà lão bảo:
- Thôi thế mày thoát rồi nhé. Lên đường về được rồi đấy.
Chàng cảm ơn bà lão đã giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn.
Chàng đi khỏi âm phủ, Trong lòng phấn khởi vì mọi việc đều được
như ý.
i chàng gặp bác lái đò, bác xin chàng giải đáp cho như chàng đã
hứa.
Chàng tốt số nói:
- Bác hãy chở tôi sang bờ bên kia, tôi sẽ bảo bác cách giải thoát.
Tới bờ, chàng cho bác biết câu trả lời của con quỉ:
- Nếu có người muốn qua sông thì bác chỉ việc đặt mái chèo vào
tay người ấy rồi đi.
Chàng lại lên đường, đến thành phố có cây trụi quả. Lính canh
cũng đang chờ chàng giải đáp. Chàng nhắc lại lời của con quỉ:
- Giết con chuột nhắt gặm rễ cây đi, thì cây lại ra quả táo vàng.
Họ cám ơn chàng và biếu chàng hai con lừa tải nặng vàng.
Sau cùng, chàng đến thành phố có giếng cạn. Chàng cũng nhắc
lại lời con quỉ:
- Có một con cóc ngồi dưới hòn đá ở đáy giếng, phải tìm nó giết
đi, thì rượu vang lại chảy ra nhiều.
Lính canh cảm ơn chàng và cũng tặng chàng hai con la trở
nặng vàng.
Chàng về tới nhà; vợ chàng vui mừng khôn xiết, vì lại trông
thấy mặt chồng và thấy chồng đi gặp được mọi việc đều như ý.
Chàng dâng vua ba sợi tóc vàng của con quỉ. Vua thấy bốn con
la tải nặng vàng, mừng lắm, nói:
- Nay con đã làm xong mọi việc ta giao cho, thì con vẫn được
lấy con gái ta. Này con, con lấy đâu ra nhiều vàng thế? Thật là một
kho tàng vô giá!
- Con lấy ở bên kia sông, đó là cát trên bờ.
Vua tham lam, hỏi:
- Ta có lấy được không?
Chàng rể đáp:
- Bẩm muốn lấy bao nhiêu cũng được ạ. Bệ hạ bảo người chở đò
đưa sang bờ bên kia thì tha hồ lấy.
Ông vua tham lam kia vội lên đường ngay. Đến bờ sông, vua ra
hiệu cho bác chở đò đưa qua sông.
Người lái đò mời vua xuống thuyền. Khi sang đến bờ bên kia,
bác đặt mái chèo vào tay vua rồi nhảy lên bờ. Thế là ông vua, vì
tham của mà chịu tội thành anh lái đò.
- Thế vua còn trèo đò nữa không?
- Sao! Thì đã có ai cầm mái chèo cho nhà vua đâu!
Các em vừa được đọc một câu truyện thật là hấp dẫn. Chàng
trai trong truyện có xứng đáng làm Vua của một nước sau khi ông
Vua tham lam và độc ác trở thành người lái đò không? Chàng là
một con người dũng cảm, nhân hậu và có trái tim tràn ngập tình
yêu nên chàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc, đúng không nào?


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Mèo làm thân với chuột

                         Mèo làm thân với chuột. Mèo kể lể tâm tình tha thiết, chuột
nghe bùi tai đồng ý ăn ở chung với mèo.
Mèo bảo:
- Ta phải đề phòng mùa rét kẻo rồi bị đói. Chú mày chớ có đi lại
liều lĩnh kẻo rồi mắc bẫy đấy.
Chuột nghe lời. Chúng đi mua một niêu mỡ nhưng không biết
cất đâu. Suy nghĩ mãi, mèo bảo:
"Anh thấy chẳng còn nơi nào cất tốt bằng ở nhà thờ vì ở đấy
không ai dám lấy gì đi. Cánh ta đem cất niêu dưới gầm bàn thờ,
chưa cần mỡ thì ta nhất định không rờ đến".
Thế là chúng cất niêu thật kỹ. Nhưng chẳng bao lâu mèo ta
thèm mỡ, nói với chuột:
- Chú chuột ạ, anh muốn nói với chú điều này. Anh có người chị
họ mời đến làm bố đỡ đầu cho cháu. Chị ấy sinh được con trai, lông
trắng đốm nâu, anh phải đi dự lễ đỡ đầu. Hôm nay anh đi, chú ở
nhà trông coi nhà cửa một mình nhé.
Chuột đáp:
- Vâng vâng, lạy Chúa ban phước lành cho anh đi, có miếng
ngon, anh nhớ lấy phần về cho em nhé. Em ao ước được nhắp rượu
vang đỏ ngọt.
Nhưng tất cả những điều mèo nói đều sai cả. Mèo chẳng có chị
em họ nào, mà cũng chẳng có ai mời đến làm lễ đỡ đầu. Nó đến
thẳng nhà thờ, lén đến niêu mỡ, ăn xong liếm lông cho sạch mỡ. Rồi
nó dạo chơi trên mái nhà thành phố, nhìn quanh quẩn, nằm ườn
sưởi nắng, mỗi lần nhớ đến niêu mỡ lại chùi mép. Mãi đến chiều nó
mới về nhà.
Chuột nói:
- Thế nào, anh đã về đấy à? Chắc là cả ngày nhởn nhơ vui thú
lắm nhỉ?
- Ừ thú lắm.
Chuột hỏi:
- Đứa trẻ đặt tên đỡ đầu là g´?
Mèo đáp gọn thon lỏn:
- "Liếm sạch lông".
Chuột reo lên:
- Sao lại là "Liếm sạch lông". Thật là một cái tên lạ lùng, hiếm
có. Trong họ anh, tên ấy có thông thường không?
Mèo nói:
- Có gì lạ đâu! Tên ấy cũng không có gì xấu hơn tên "Ăn cắp
vặt" là tên đỡ đầu của chú?
Cách đó ít lâu, mèo lại nổi cơn thèm, nói với chuột:
- Chú làm ơn giúp anh nhé. Nhờ chú trông nom nhà cửa một
mình chuyến nữa. Anh lại có người mời đi làm bố đỡ đầu lần thứ
hai. Đứa trẻ có vòng lông trắng quanh cổ, anh không tiện từ chối.
Chuột tốt bụng, nhận lời. Mèo kín đáo đi đến nhà thờ ăn thêm
một nửa niêu mỡ. Nó nghĩ bụng: "Không gì ngon hơn là ăn một
mình", và lấy làm thú vị về việc làm ngày hôm đó. Khi về nhà,
chuột hỏi:
- Thế nào anh, tên đỡ đầu của đứa trẻ là gì?
Mèo đáp:
- "Hết một nửa"
- Sao lại "Hết một nửa"? Anh nói gì thế? Từ thủa cha sinh mẹ
đẻ, em chưa nghe thấy tên ấy bao giờ. Em cuộc là tên ấy không có ở
trong lịch sử.
Sau đó ít lâu, nghĩ đến mỡ, mèo lại thèm nhỏ dãi. Nó liền bảo
chuột:
- Quá tam ba bận. Anh lại phải đứng ra làm bố đỡ đầu. Đứa trẻ
đen tuyền. Trừ chân trắng, không có một sợi lông trắng nào trên
người, thật là mấy năm mới có một lận sinh thế. Chú mày để anh đi
nhé!
Chuột đáp:
- "Liếm sạch lông", "Hết một nửa", tên gì mà quỉ quái thế, em
cứ suy nghĩ mãi đấy.
Mèo nói:
- Chú cứ ru rú xó nhà với cái áo lông màu xám thẫm và cái đuôi
dài mà nghĩ lẩn thẩn. Ấy chẳng qua là tại cả ngày không chịu đi ra
ngoài đấy thôi!
Trong khi mèo đi vắng, chuột dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp. Mèo
háu ăn chén sạch niêu mỡ. Nó nghĩ bụng: "Chỉ chén kỳ hết mới yên
tâm". Mãi đến đêm, nó mới về nhà, no nứt bụng. Chuột hỏi luôn tên
đứa trẻ được rửa tội là gì. Mèo đáp:
- Chắc là chú không vừa lòng đâu! Tên nó là "Hết sạch".
Chuột kêu:
- "Hết sạch", thật là một tên lạ lùng. Em chưa đọc thấy tên ấy
bao giờ. "Hết sạch" thế là nghĩa lý gì nhỉ?
Nó lắc đầu, nằm cuộn tròn người lại ngủ.
Từ đó trở đi, chẳng có ai đến mời mèo đi làm bố đỡ đầu nữa.
Nhưng khi mùa đông tới, ra ngoài đồng không kiếm được gì ăn nữa,
chuột mới nghĩ đến thức ăn để dành:
- Anh mèo ạ, ta đi tìm niêu mỡ để dành đi, chắc là ngon lắm
đấy.
Mèo đáp:
- Được. Hẳn chú sẽ thấy ngon lắm, ngon như thể lưỡi liếm
không khí ấy mà!
Chúng ra đi, tới nơi thì thấy niêu vẫn còn nguyên chỗ cũ nhưng
chỉ có niêu không.
Chuột bảo:
- Thì ra thế, bây giờ tôi mới hiểu các việc đã xảy ra. Bây giờ mới
rõ anh thật là bạn tốt. Anh đã đánh chén hết. Anh làm cha đỡ đầu
như thế đấy: Lần đầu "Liếm sạch lông", lần sau "Hết một nửa",
rồi...
Mèo hét lên:
- Câm mồm ngay. Mày còn nói tiếng nữa là tao ăn thịt mày
đấy.
Tội nghiệp con chuột không k´m được tiếng:
- "Hết sạch".
Vừa nói buông miệng thì mèo đã vồ nó nuốt chửng.
Bạn xem đấy, tình đời là thế đấy!
Các em có những suy nghĩ gì về câu chuyện này? Mèo xấu tính,
tán tận lương tâm hay chuột khờ dại? Nói thế nào cũng đều đúng
cả. Ai đời chuột lại chơi với mèo. Các em có bao giờ nghe câu nói:
“Chọn bạn mà chơi chưa"? Trong cuộc đời có nhiều người tốt nhưng
cũng lắm kẻ xấu. Nếu các em kết bạn với kẻ xấu thì các em sẽ nhận
được hậu quả như con chuột trong truyện đấy!


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Hai anh em

                         Xưa có hai anh em, anh thì giàu mà em thì nghèo. Người anh
giàu có làm nghề thợ vàng, tính vốn ác nghiệt. Người em tết chổi
bán kiếm tiền ăn, tính tình hiền hậu ngay thật. Người em có hai
con, đẻ sinh đôi giống nhau như hai giọt nước. Hai đứa bé thỉnh
thoảng vẫn lui tới nhà bác để hòng kiếm thức ăn thừa.
Một bữa kia, người em vào rừng đốn củi bỗng thấy có con chim
toàn vàng, xưa nay anh chưa từng thấy. Anh nhặt một viên sỏi
ném, may trúng chim, nhưng chỉ rụng có một chiếc lông vàng còn
chim bay mất. Anh lại nhặt cái lông mang về cho người anh. Gã
nhìn rồi bảo: "Vàng thật đấy" rồi gã trả tiền cho em.
Bữa sau, người em trèo lên một gốc bạch dương định chặt lấy
mấy cành, tình cờ lại thấy con chim hôm trước bay đi. Anh tìm một
lát thấy tổ chim, trong có quả trứng vàng. Anh nhặt trứng đem về
cho người anh, gã lại bảo: "Vàng thật đấy" và trả tiền cho em.
Sau rốt, gã thợ vàng bảo: "Ta muốn có cả con chim kia!"
Người em vào rừng lần thứ ba lại thấy con chim đang đậu trên
cây. Anh nhặt đá ném nó rơi xuống, đoạn xách nó về cho người anh,
được gã trả cho một nắm vàng. Anh nghĩ bụng: "Giờ thì ta có thể
sống đàng hoàng rồi đấy". Anh hài lòng lắm, ra về.
Gã thợ vàng vốn là tay tinh quái, ranh mãnh nên gã thừa biết
con chim kia đáng giá bao nhiêu rồi. Gã gọi vợ, bảo: "Hãy mang
quay con chim vàng này cho tôi, nhớ chú ý đừng để mất đi tí gì nhé,
tôi muốn ăn một mình tất cả".
Con chim này đâu có phải giống chim thường. Nó vốn thuộc
một loài rất lạ. Ai ăn được tim gan nó trong vòng mười năm, cứ mỗi
sáng lật gối lên sẽ có một đồng vàng. Người vợ mổ chim xong, cắm
vào một cái xiên bỏ lò quay. Lát sau, chị ta có việc cần đi ra ngoài.
Tình cờ giữa khi ấy, hai đứa nhỏ con người em chạy vào bếp đứng
xem quay chim. Chúng nó xoay cái xiên đi, lại mấy vòng. Thấy hai
miếng gì nho nhỏ rơi từ trong bụng chim xuống lòng chảo, một đứa
bảo: "Ta ăn tí đi, em đói lắm, chẳng ai biết đâu mà sợ". Mỗi đứa
nhặt ăn một miếng. Đang ăn bỗng người đàn bà trở vào thấy rõ
chúng nhai mới hỏi: "Bay ăn gì thế?".
Hai đứa đáp: "Có vài miếng từ bụng chim rơi xuống bác ạ".
"Tim gan nó đấy mà!". Người đàn bà hãi quá. Để chồng khỏi
thấy thiếu mà nổi nóng, chị vội thịt ngay một con gà, moi tim gan
ra bù vào chỗ thiếu ở con chim vàng. Chim chín rồi, chị mang lên
cho chồng. Gã ngốn tất một mình, không còn sót lại lấy một miếng.
Sớm hôm sau, lúc luồn tay xuống dưới gối, gã cứ đinh ninh sẽ được
một đồng vàng nhưng gã chẳng thấy gì hết.
Còn hai đứa nhỏ, chúng không ngờ vận may đã đến với chúng.
Sớm hôm sau, lúc chúng thức giấc, bỗng có vật gì rơi xuống đất,
tiếng kêu lanh lảnh. Chúng nhặt lên, té ra là hai đồng vàng. Chúng
vội đem vào cho bố. Anh ta ngạc nhiên lắm, cứ tự hỏi: "Đầu đuôi thế
nào đây nhỉ?".
Nhưng rồi sáng hôm sau lại được hai đồng vàng nữa và cứ thế.
Anh ta bèn tìm người anh và kể cho anh nghe câu chuyện lạ. Gã
thợ vàng hiểu ngay ra thế nào rồi, chắc hai đứa bé đã xơi mất cỗ
tim gan trong con chim vàng của gã. Vốn tính tham lam cay nghiệt,
để báo thù, gã mới dọa em: "Các cháu nó rỡn với quỷ rồi đấy! Chú
chớ có lấy vàng và cũng chẳng nên cho chúng ở nhà nữa. Quỷ đã ám
chúng và có thể sẽ còn hại cả chú nữa".
Người em nghe nói sợ lắm, nên mặc dù trong lòng đau như cắt,
anh đành dắt hai con vào rừng, và ngậm ngùi bỏ con lại đó.
Hai đứa trẻ quanh quẩn mãi trong rừng mà chẳng tìm được lối
về, chúng bị lạc càng sâu hơn. Sau gặp một người đi săn hỏi chúng:
"Các cháu là con cái nhà ai thế?".
Chúng đáp: "Chúng cháu là con người tết chổi nghèo". Chúng
kể cho người đi săn biết chuyện cha chúng không muốn giữ chúng ở
nhà chỉ vì sáng nào ở dưới gối của chúng cũng có một đồng tiền
vàng. Người đi săn bảo: "Được, có gì khó khăn đâu, chỉ miễn là các
cháu cứ ở cho ngay thật và chớ làm biếng".
Người đi săn tốt bụng này vốn không có con. Thấy hai đứa trẻ
dễ thương, anh đưa luôn chúng về nhà mình và bảo: "Ta nuôi các
cháu làm con". Anh truyền cho chúng nghề thợ săn và cất hộ chúng
những đồng vàng mà sáng chúng vẫn được, để sau này dùng tới.
Khi hai đứa trẻ đã lớn rồi, một hôm bố nuôi mới dắt cả hai vào
rừng và bảo: "Bữa nay, các con phải bắn thử để ta còn làm lễ cho
các con chính thức vào nghề". Ba người vào chỗ ẩn nhưng họ đợi
mãi chẳng thấy con thú nào mò tới. Bác thợ săn mới ngẩng đầu lên
nhìn bắt gặp đàn vịt trời trắng như tuyết đang xếp theo hình tam
giác bay qua. Bác bảo con lớn: "Thử hạ mỗi góc một con coi nào?".
Người con lớn bắn và đạt được đúng như đúng lời bố dặn. Lát sau
lại có đàn nữa bay tới, lần này chúng xếp thành hình số hai. Bác lại
bảo con thứ hai thử hạ mỗi góc một con. Anh chàng này bắn cũng
đạt. Bố nuôi bảo: "Ta tuyên bố là kể từ nay, các con chính thức vào
nghề". Tiếp đó, hai anh em đưa nhau vào rừng bàn bạc và nhất trí
với nhau điều gì đó. Tối đến, lúc ngồi vào bàn ăn, hai người thưa với
bố nuôi: "Chúng con sẽ chẳng chịu ăn đâu nếu như bố không thuận
cho chúng con một điều".
Bác hỏi: "Các con có điều gì vậy?".
Hai người đáp: "Giờ chúng con đã học thành nghề rồi, muốn đi
thử tài với thiên hạ một phen, xin hãy cho chúng con đi.". Bác thợ
săn vui lòng lắm: "Các con ăn nói đúng như những người thợ săn
dũng cảm, điều mong muốn của các con cũng chính là điều ước
nguyện của bố, các con cứ đi đi, tất sẽ thành công". Ba người lại ăn
uống rất vui vẻ.
Tới ngày đã định, bố nuôi tặng mỗi người một khẩu súng với
một con chó săn. Số vàng dành dụm bấy lâu nay cũng trả cho các
con mang theo tùy ý muốn. Bác đi tiễn các con một đoạn đường. Lúc
chia tay, bác còn cho thêm hai đứa một con dao còn mới sáng loáng
và bảo: "Khi nào các con từ biệt nhau, nhớ cắm con dao này vào một
gốc cây. Lúc trở về, cứ xem dao khắc biết tin nhau. Rút dao ra, nếu
thấy han rỉ tức là người vắng mặt đã chết. Trái lại, dao còn sáng
tức là người còn sống".
Hai anh em đi miết tới một khu rừng to, đi trọn một ngày mà
chưa hết rừng. Họ phải ngủ đêm ở đó và lấy lương khô ra ăn. Lại đi
trọn một ngày hôm sau nữa cũng chưa hết rừng. Lương ăn đã cạn
rồi anh bảo em: "Phải bắn con gì ăn cho đỡ đói". Nói xong anh nạp
đạn và tìm quanh. Thấy con thỏ chạy tới, anh giương súng ngắm
nhưng thỏ kêu: "Hãy tha mạng cho tôi, tôi xin nộp hai con thỏ con".
Nó nhảy ngay vào bụi, sau đó tha ra hai chú thỏ con. Mấy con vật
nhỏ này trông rất đáng yêu, hai người động lòng thương không nỡ
giết. Họ giữ chúng lại và mang theo, hai con thỏ cũng bám rất sát
dấu chân hai người.
Một lát sau đó, lại gặp một con cáo. Hai người định bắn thì cáo
kêu lên: "Hãy tha mạng cho tôi, tôi xin nộp hai con cáo nhỏ". Cáo
tha ra hai chú cáo nhỏ. Hai người cũng không nỡ giết, cho đi cùng
với hai con thỏ. Lát sau, một con sói ở chỗ rừng rậm ra. Hai người
định bắn thì sói kêu: "Hãy tha mạng cho tôi, tôi xin nộp hai con sói
nhỏ". Họ tha hai con sói nhỏ nhập đàn với mấy con kia cùng đi.
Lại gặp một con gấu nhưng gấu cũng tham sống kêu lên: "Hãy
tha mạng cho tôi, tôi xin nộp hai con gấu nhỏ". Hai con gấu nhỏ
được nhập cùng đàn với mấy con trên, thành tám con tất cả.
Sau đó, họ gặp sư tử. Sư tử rũ bờm tiến lại. Nhưng hai người
nào có sợ. Họ giương súng ngắm. Sư tử vội kêu lên: "Hãy tha mạng
cho tôi, tôi xin nộp hai con sư tử con". Nó tha hai con nó ra. Thế là
hai người đã có một đôi sư tử, một đôi gấu, một đôi sói, một đôi cáo,
một đôi thỏ theo hầu. Trong bụng vẫn đói, họ mới bảo hai con cáo:
"Này các chú cáo, các chú vốn ranh mãnh, đa mưu lại nhẹ nhàng,
hãy kiếm cái gì ăn đi".
Cáo đáp: "Cách đây không xa có một thôn nhỏ, bọn tôi vẫn
thường tới đó ăn trộm gà, để chúng tôi xin dẫn đường".
Hai người tìm đường vào thôn, mua ít thức ăn, lại không quên
cho cả mấy con vật ăn rồi tiếp tục ra đi. Hai con cáo vốn đã biết quá
rõ trong vùng ấy chỗ nào nuôi gà, nên chúng chỉ đường cho hai
người thợ săn rất rành.
Đi quanh quẩn đã khá lâu rồi mà vẫn chẳng tìm ra được chốn
nào có việc làm mà lại ở cùng với nhau, nên hai anh em bàn: "Chỉ
còn cách là ta chia tay nhau thôi.". Hai người chia đám súc vật ra,
mỗi người lấy một con sư tử, một con gấu, một con sói, một con cáo
và một con thỏ. Rồi họ từ biệt nhau, hứa sẽ giữ tình anh em trọn
đời và cắm con dao mà bố nuôi đã cho họ lên một gốc cây.
Một người theo hướng đông mà đi, còn người kia lần theo
hướng tây. Người em dẫn đàn súc vật đi tới một thành thị kia, thấy
khắp nơi trong thành treo toàn cờ đen. Chàng rẽ vào một quán trọ
hỏi chủ quán có chỗ cho súc vật của chàng trọ không. Chủ quán đưa
chúng vào một cái chuồng, trên vách chuồng có lỗ thủng. Thế là thỏ
ta chui được ra ngoài đi kiếm một cái bắp cải trắng. Cáo cũng kiếm
được một con gà mái, ăn xong nó lại xơi luôn nốt con gà trống.
Nhưng sói, gấu và sư tử vì thân hình to lớn quá, không vào chuồng
được. Chủ quán bèn dẫn chúng ra một nơi, có con bò sữa đang nằm
trên thảm cỏ, chúng thịt ngay con bò sữa.
Chàng thợ săn lo cho đàn súc vật xong xuôi rồi mới hỏi thăm
chủ quán xem tại sao trong thành chỉ thấy toàn cờ tang.
Chủ quán cho biết: "Sáng mai, công chúa con một của đức vua
qua đời".
Chàng hỏi lại: "Nàng bị ốm nặng hay sao?".
Chủ quán đáp : "Không đâu, nàng vẫn tươi tỉnh khỏe mạnh
nhưng nàng sẽ phải chết".
Chàng thợ săn vẫn hỏi: "Sao vậy?".
- Trước cửa thành có một ngọn núi cao, trên núi có một con
rồng. Năm nào rồng cũng đòi phải hiến cho nó một người con gái
đẹp, bằng không nó sẽ tàn phá cả giang sơn này. Giờ thì con gái đẹp
trong thành đã hết rồi, chỉ còn lại mình công chúa, bắt buộc phải
hiến nàng cho nó thôi. Mai là tới kỳ hạn đó".
Chàng thợ săn lại hỏi: "Thế sao không giết con rồng đi?".
Chủ quán đáp: "Trời ơi, biết bao hiệp sĩ đã bỏ mình với nó rồi.
Vua hứa là nếu ai thắng nổi nó thì sẽ được lấy con gái người, sau
này lại sẽ được hưởng ngôi báu nữa".
Chàng thợ săn không nói gì nữa. Sáng hôm sau chàng lẳng
lặng dẫn súc vật lên núi tìm rồng. Lên đến trên núi chàng thấy có
một ngôi nhà thờ. Trên bàn thờ có ba cốc rượu đầy, bên cạnh có mấy
dòng chữ viết: "Ai uống cạn mấy cốc rượu này thì sẽ trở thành người
khỏe nhất trần gian và sẽ múa nổi thanh kiếm chôn ở dưới bậc
cửa". Chàng không uống rượu mà ra nhấc thanh kiếm ngay nhưng
không sao nhấc nó lên. Chàng đành phải quay lại uống cạn rượu,
lúc này mới đủ sức nhấc nổi thanh kiếm và còn có thể múa nó rất
dễ dàng nữa.
Tới giờ nộp công chúa cho con rồng, cả đức vua, quan nguyên
soái và quần thần đều đi theo để tiễn nàng. Từ xa nàng đã nom
thấy chàng thợ săn đứng trên một ngọn núi. Nàng ngỡ đó là con
rồng đang đợi nàng nên không chịu đi nữa. Nhưng nàng lại nghĩ số
phận của cả thành, nàng lại đành phải đi, bước chân nặng trĩu. Vua
và quần thần quay về, lòng buồn vô hạn, chỉ duy quan nguyên soái
còn phải đứng lại đó để chứng kiến từ xa các việc sắp xảy ra.
Công chúa lên ngọn núi thấy chẳng phải là rồng mà lại là
chàng thợ săn trai trẻ. Chàng an ủi nàng, bảo cho nàng biết là
chàng sẽ cứu nàng, đưa nàng vào trong nhà thờ và khóa cửa lại.
Một lát sau, có tiếng gió cuốn dữ dội rồi một con rồng bảy đầu xuất
hiện. Thấy chàng thợ săn nó ngạc nhiên lắm, hỏi:
- Mi lên núi có việc g´?
Chàng trả lời:
- Ta muốn đọ sức với mi.
Rồng bảo:
- Bao nhiêu hiệp sĩ đã bỏ mình ở nơi đây rồi, ta sẽ cho mi theo
gót chúng.
Tức thì cả bảy cái đầu của nó phun lửa phì phì. Lửa bắt vào cỏ
khô. Chàng thợ săn sẽ chết trong đám khói nếu mấy con vật của
chàng không kịp chạy tới dập tắt. Rồng bèn xông vào chàng. Chàng
vung kiếm, thanh kiếm rít trên không, chém rụng ba đầu rồng. Con
rồng nổi điên, nó bay vút lên cao khạc lửa đồng thời định đâm bổ
xuống. Chàng thợ săn lại chém luôn một nhát, đứt thêm ba đầu
nữa. Con vật đã quá kiệt sức rơi xuống nhưng nó vẫn muốn xông
vào lượt nữa. Chàng lấy hết sức còn lại chém đứt đuôi nó. Chàng
không đánh được nữa bèn gọi mấy con vật của chàng. Chúng xô lại
xé xác con rồng ra thành từng mảnh.
Cuộc chiến đấu đã xong, chàng mở cửa nhà thờ thấy công chúa
đang nằm lăn dưới đất. Trong lúc đánh nhau, nàng đã ngất đi vì
quá sợ. Chàng vực nàng ra ngoài, đợi một lúc nàng đã tỉnh và hé
mắt nhìn chàng mới chỉ cho nàng mấy khúc xác rồng để cho nàng
biết là nàng đã thoát. Công chúa mừng lắm nói: "Rồi chàng sẽ là
chồng thiếp vì cha thiếp có hứa sẽ gả con gái cho ai giết được rồng".
Nàng tháo chuỗi vòng san hô đang đeo ở cổ chia cho mấy con vật để
thưởng công cho chúng, riêng sư tử được chia cái khóa vàng. Còn
chiếc khăn tay thêu tên nàng, nàng đưa tặng chàng thợ săn. Chàng
bèn ra cắt bảy cái lưỡi của bảy đầu rồng, bọc vào khăn giữ cẩn thận.
Sau đó vì bị lửa hun và đánh nhau đã kiết sức, chàng bảo công
chúa: "Hai ta đều đã quá mệt mỏi, ta hãy ngủ một lúc". Công chúa
ưng thuận. Hai người nằm ngay dưới đất. Chàng bảo sư tử: "Mày
hãy ngồi canh đừng cho ai xâm phạm vào chúng ra trong giấc ngủ".
Hai người ngủ. Sư tử nằm cạnh hai người để canh, nhưng vì nó
cũng mệt rồi nên nó gọi gấu bảo: "Mày lại nằm cạnh tao, tao cần
ngủ một lúc, có chuyện gì thì mày đánh thức tao". Gấu lại nằm bên
sư tử nhưng vì gấu cũng mệt nó gọi sói bảo: "Mày lại nằm cạnh tao,
tao cần ngủ một lúc, có chuyện gì thì mày đánh thức tao". Sói lại
nằm bên gấu nhưng vì sói cũng mệt nên nó gọi cáo bảo: "Mày lại
nằm cạnh tao, tao cần ngủ một lúc, có chuyện gì thì mày đánh thức
tao". Cáo lại nằm bên sói nhưng vì cáo cũng mệt nên gọi thỏ bảo:
"Mày lại nằm cạnh tao, tao cần ngủ một lúc, có chuyện gì thì mày
đánh thức tao". Thỏ lại nằm bên cáo nhưng vì chính chú thỏ đáng
thương cũng mệt rồi mà chẳng nhờ được ai canh giùm nên nó ngủ
thiếp đi mất. Thế là công chúa, anh thợ săn, sư tử, gấu, sói, cáo, thỏ
tất cả ngủ say.
Tên nguyên soái vẫn đứng nhìn ở đằng xa, lúc này không thấy
rồng cắp công chúa bay lên, trên núi đâu đấy vẫn yên tĩnh, hắn bạo
dạn đi lên. Lúc đến nơi, hắn thấy mấy khúc xác rồng lăn lóc trên
mặt đất và cách đó một quãng, công chúa với người thợ săn và mấy
con vật đang say sưa ngủ. Hắn vốn là tay gian ác xảo quyệt nên rút
kiếm chặt ngay đầu người thợ săn, rồi hắn bế công chúa xuống núi.
Công chúa thức giấc, thấy thế sợ lắm, nhưng tên nguyên soái đã
bảo: "Nàng giờ ở trong tay ta rồi, nàng phải nói chính ta đã chém
chết con rồng".
Công chúa đáp: "Ta không thể làm được đâu vì đó là công của
người thợ săn với mấy con vật".
Tên nguyên soái rút kiếm ra dọa nếu nàng không chịu nghe
hắn sẽ giết nàng. Công chúa đành phải nhận lời. Ngay sau đó, hắn
đưa nàng đến gặp vua cha. Vua cha vốn đinh ninh là con gái yêu
của mình đã bị quái vật xé xác nên thấy con vẫn sống trở về, vua
vui mừng khôn xiết.
Tên nguyên soái tâu: "Thần đã có công chém được con rồng để
cứu công chúa và cứu nước, nay xin bệ hạ cho thần được lấy nàng
như lời bệ hạ đã hứa hẹn.
Vua hỏi công chúa: "Có đúng như lời của hắn nói không?". Công
chúa đáp: "Thưa đúng như thế nhưng con xin đợi một năm lẻ một
ngày nữa rồi hãy làm lễ cưới". Nàng mong mỏi trong khoảng thời
gian đó may ra có thể được tin tức về người yêu.
Trên quả núi rồng, khi ấy mấy con vật vẫn còn nằm ngủ say
sưa cạnh thân chủ chúng. Bỗng có một con ong bay đến đậu ngay
trên mũi thỏ. Thỏ giơ chân gạt nó rồi lại ngủ. Ong bay đến lần thứ
hai, thỏ cũng gạt nó đi rồi lại ngủ. Ong bay lại lần thứ ba, đốt luôn
vào mũi thỏ. Thỏ giật mình tỉnh dậy. Nó đánh thức cáo, cáo đánh
thức sói, sói đánh thức gấu, gấu đánh thức sư tử. Sư tử tỉnh dậy,
thấy công chúa đã biến mất, chỉ còn chủ nằm chết đó, nó rống lên
rất dữ dội và hét: "Kẻ nào đã làm việc này? Gấu sao mày chẳng
đánh thức tao?". Gấu hỏi sói: "Sao mày chẳng đánh thức tao?". Sói
hỏi cáo: "Sao mày chẳng đánh thức tao?". Cáo lại hỏi thỏ: : "Sao
mày chẳng đánh thức tao?". Thỏ không biết trả lời thế nào, thành
thử tội lỗi đổ cả lên đầu nó.
Mấy con vật kia định xông vào đánh thỏ, thỏ vội khẩn khoản:
"Các anh đừng giết tôi, để tôi sẽ làm cho chủ của chúng ta sống lại.
Tôi biết một quả trên núi, trên có thứ rễ cây, chỉ cần ngậm thứ rễ
cây ấy là bệnh tật thương tích gì cũng khỏi. Nhưng quả núi lại ở
cách đây có tới hai trăm tiếng đồng hồ đường bộ kia". Sư tử bảo:
"Hẹn cho mày nội trong hai mươi bốn tiếng phải tới đó lấy bằng
được thứ rễ nọ về đây".
Thỏ nhảy tót đi ngay. Hăm bốn giờ sau nó đã về, mang theo
thứ rễ nọ. Sư tử vội tha đầu chủ, chắp vào mình như trước, còn thỏ
nhét rễ cây vào miệng chủ. Tức thì đầu lại liền ngay với mình, tim
bắt đầu đập và người chết sống lại. Chàng thợ săn tỉnh dậy thấy
mất công chúa, kinh hoảng lắm. Chàng nghĩ bụng: "Chắc nàng đã
thừa lúc ta ngủ bỏ trốn rồi".
Lúc sư tử chắp đầu cho chủ, nó vội quá nên chắp trái chiều,
nhưng chủ nó đang buồn không để ý. Mãi đến trưa lúc sắp ăn chàng
mới biết là đầu mình ngoảnh lại phía sau lưng. Chàng không hiểu
sao cả, bèn hỏi mấy con vật đã có chuyện gì xảy ra trong khi chàng
ngủ. Sư tử kể rằng khi ấy chúng ngủ hết vì mệt quá, lúc nó tỉnh dậy
thấy chủ đã chết, đầu bị chặt lìa khỏi xác, thỏ đã đi lấy rễ cây
trường sinh, còn nó trong lúc quá vội đã chắp đầu trái chiều, giờ nó
muốn sửa lại thiếu sót ấy. Kể xong, nó rứt luôn đầu chàng thợ săn
ra, xoay trở lại và thỏ lại vội lấy rễ cây chữa cho liền lại.
Chàng thợ săn buồn lắm. Chàng đi đây đi đó, dạy mấy con vật
nhảy múa làm vui cho thiên hạ xem. Đúng một năm sau, chàng trở
lại chỗ thành thị chỗ chàng đã cứu công chúa ngày trước. Lần này
thấy phố xá treo toàn cờ đỏ. Chàng hỏi chủ quán: "Thế là thế nào?
Năm trước phố xá treo toàn cờ đen, năm nay sao lại chỉ thấy treo
toàn cờ đỏ?". Chủ quán đáp: "Năm trước, vua chúng tôi phải tiến
công chúa cho rồng, may nhờ quan nguyên soái đánh nhau với rồng
đã chém được nó. Mai đây là ngày cưới nàng. Chính vì vậy mà năm
trước phố xá treo cờ đen để chịu tang, còn hôm nay treo cờ đỏ để ăn
mừng".
Hôm nay là ngày lễ cưới, đến bữa trưa, chàng thợ săn bảo chủ
quán: "Ông chủ có tin là bữa nay ta sẽ lấy được bánh mì ở tận bàn
tiệc của nhà vua về đây ăn không?".
Chủ quán thưa: "Tôi chẳng dám tin đâu; vâng, tôi xin cuộc với
ngài trăm đồng vàng đây".
Chàng thợ săn nhận đánh cuộc. Chàng cũng đưa ra một cái túi
đựng một trăm đồng vàng. Đoạn chàng gọi thỏ và bảo: "Chú thỏ tài
nhảy nhót, chú hãy vào lấy bánh của nhà vua ăn ra đây cho ta".
Thỏ vốn bé nhất đám, chẳng thể sai khiến con vật nào khác
nên nó đành phải tự thân đi lấy. Nó nghĩ bụng: "Một mình mình
chạy giữa phố thế này tất sẽ bị chó săn đuổi mất thôi". Quả như nó
nghĩ, có mấy con chó rượt theo, muốn lột da nó. Nó chạy nhanh như
biến và lẩn ngay được vào một cái chòi gác mà lính canh chẳng biết
gì hết.
Đàn chó xông lên định lôi nó ra nhưng tên lính canh lại ngỡ
đàn chó muốn rỡn với mình, hắn nổi nóng phang luôn mấy báng
súng. Lũ chó sủa om sòm rồi chạy mất.
Thỏ thấy đã hết nguy, nhảy luôn vào lâu đài. Nó đến thẳng chỗ
công chúa, lẻn dưới gầm ghế nàng ngồi khẽ cào chân nàng. Công
chúa tưởng là con chó của nàng nên mắng: "Mày có đi chỗ khác
không?". Thỏ cào lần thứ hai, công chúa lại mắng: "Mày có đi chỗ
khác không?". Nhưng thỏ không hề bối rối, nó cào lần thứ ba. Công
chúa mới nhòm xuống và nhờ cái dây buộc ở cổ thỏ, nàng nhận được
nó. Nàng bế nó lên, mang vào phòng hỏi: "Thỏ yêu quí ơi, thỏ muốn
gì thế".
Thỏ đáp: "Chủ tôi là người giết rồng hiện đã tới đây. Người sai
tôi vào xin một tấm bánh mì vua vẫn ăn". Công chúa nghe nói
mừng lắm. Nàng cho gọi ngay người thợ làm bánh vào, sai lấy một
tấm bánh, thứ mà vua vẫn thường ăn. Thỏ lại nói: "Xin cho người
thợ làm bánh đem tôi ra ngoài để lũ chó săn khỏi hại tôi".
Người thợ làm bánh đem thỏ đến tận cửa nhà trọ. Thỏ ôm tấm
bánh mì bằng hai chân trước, đi bằng hai chân sau đem vào chỗ ông
chủ. Chàng thợ săn bảo chủ quán: "Thấy chưa, ông chủ quán ơi,
trăm đồng vàng kia là của tôi rồi". Chủ quán kinh ngạc lắm, nhưng
chàng thợ săn đã nói tiếp: "Vâng ông chủ ạ, bánh đã có rồi, giờ thì
tôi lại muốn ăn cả món thịt rán của nhà vua nữa kia!". Chủ quán
bảo: "Để xem nào". Nhưng anh ta không dám đánh cuộc nữa. Chàng
thợ săn liền gọi cáo bảo: "Chú cáo, chú hãy vào lấy món thịt rán của
vua ra đây cho ta".
Con cáo lông đỏ này luồn tài hơn thỏ. Nó cứ tìm ngõ ngách mà
đi nên không bị con chó nào trông thấy. Nó lẻn vào dưới gầm ghế
công chúa ngồi, cào lên chân nàng. Công chúa nhìn xuống, thấy sợi
dây buộc ở cổ cáo, nhận ra nó, đem nó vào phòng, hỏi: "Cáo yêu quí
ơi, cáo muốn gì thế?".
Cáo đáp: "Chủ tôi là người giết rồng, hiện đã ở đây rồi. Người
sai tôi vào xin một miếng thịt rán của vua ăn. Công chúa gọi đầu
bếp, sai làm món thịt rán vua vẫn ăn đem ra cho cáo. Cáo bưng lấy
đĩa thịt, đem về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán: "Thấy chưa, ông chủ ơi, bánh,
thịt đã có rồi, bây giờ ta muốn ăn món rau của nhà vua nữa".
Chàng gọi sói vào bảo: "Chú sói, chú vào lấy món rau của nhà vua
ăn ra đây cho ta".
Sói chẳng sợ ai cả nên nó vào thẳng trong lâu đài. Nó đến
phòng công chúa, khẽ kéo áo nàng để nàng buộc phải nhìn xuống.
Nàng trông thấy sợi dây buộc ở cổ nó, nhận ra nó mới đưa nó vào
phòng, hỏi: "Sói thân yêu ơi, sói muốn g´?".
Sói đáp: "Chủ tôi là người giết rồng, hiện đã ở đây rồi. Người
sai tôi vào xin món rau của vua ăn".
Công chúa gọi đầu bếp, sai làm món thịt rau vua vẫn ăn đem
ra tận cửa cho sói. Sói bưng liễn rau đem về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán: "Thấy chưa, ông chủ ơi, bánh,
thịt, rau đã có rồi, bây giờ ta muốn ăn món đồ ngọt của nhà vua
nữa". Chàng gọi gấu và bảo: "Chú gấu, chú vốn thích liếm của ngọt,
chú hãy lấy món đồ ngọt của vua ăn ra đây cho ta".
Gấu lạch bạch chạy vào lâu đài. Dọc đường, ai thấy nó cũng
phải lảng tránh. Tới chỗ lính canh, tên lính giơ súng định ngăn
không cho nó đi. Nó nhẩy ngay lên, và cho tên lính mấy cái tát vào
má phải má trái. Cả cái chòi gác đổ sập. Nó lại thẳng đường vào chỗ
công chúa, đứng sau lưng nàng khẽ gầm gừ. Công chúa quay lại
nhận ra gấu, bèn gọi nó vào phòng hỏi: "Gấu thân yêu ơi, gấu muốn
g´?".
Gấu đáp: "Chủ tôi là người giết rồng, hiện đã ở đây rồi. Người
sai tôi vào xin món đồ ngọt của nhà vua vẫn dùng".
Công chúa vội gọi người thợ làm bánh ngọt, sai làm thứ bánh
ngọt vua thường ăn, mang ra cho gấu.
Gấu liếm đường rơi bên dưới lên cả phía trên rồi nó mới đứng
dậy, bưng âu bánh đem về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán: "Thấy chưa, ông chủ ơi, bánh,
thịt, rau, đồ ngọt đã có rồi, bây giờ ta lại muốn uống thứ rượu mà
vua thường dùng".
Chàng gọi sư tử vào và bảo: "Chú sư tử, chú vốn thích rượu.
Chú hãy vào lấy thứ rượu nho của vua về cho ta". Sư tử đi ra
đường, ai thấy nó cũng chạy; tới chỗ chòi gác. Lính canh định cản
đường nó, nó rống lên một tiếng, mọi thứ đã bị bắn tung đi hết. Sư
tử đến trước phòng vua, quất đuôi lên cửa. Công chúa ra, thoạt thấy
nó rất kinh khủng, nhưng rồi nàng nhận ra nó nhờ có cái chìa khóa
vàng buộc ở cổ nó. Nàng gọi nó vào phòng, hỏi: "Sư tử thân yêu ơi,
sư tử muốn gì?".
Sư tử đáp: "Chủ tôi là người giết rồng, hiện đã ở đây rồi. Tôi
vào xin thứ rượu nho mà vua vẫn uống".
Công chúa vội cho gọi người hầu rượu, sai đem thứ rượu nho
vua vẫn uống ra cho sư tử. Sư tử nói: "Để tôi đi xem có đúng thứ ấy
không!".
Nó liền đi theo người hầu rượu. Xuống dưới hầm, người này
định lấy thứ rượu thường của bọn người hầu vẫn uống. Sư tử bảo:
"Khoan, đợi ta nếm xem đã!". Nó tự rót lấy nửa bình, tu một hơi cạn
ráo. Nó bảo: "Không phải thứ này". Người hầu rượu liếc trộm nó rồi
ra chỗ thùng rượu khác, định lấy thứ rượu vẫn dành cho quan
nguyên soái. Sư tử lại bảo: "Khoan để ta nếm xem đã!". Nó tự rót
nửa bình nữa, tu cạn: "Có khá hơn nhưng vẫn chưa phải".
Người hầu rượu phát cáu mới nói: "Cái đồ súc vật, ngu độn còn
biết gì về rượu!". Tức thì gã bị sư tử vả ngay cho một cái vào sau
gáy ngã phục xuống bất tỉnh nhân sự. Lúc tỉnh lại rồi, gã không
dám nói gì nữa, cứ lẳng lặng đưa sư tử đến bên một cái hầm đặc
biệt nhỏ nhắn. Trong đó là rượu của vua. Xưa nay ngoài vua ra
không ai được uống.
Sư tử lại rót lấy nửa bình nếm trước. Xong nó bảo: "Có thể
đúng đấy". Nó sai gã kia rót ra sáu chai đầy, rồi cùng đi lên. Lúc ra
tới bên ngoài, nó thấy chuyếnh choáng hơi say. Gã kia đem rượu ra
đến tận cửa cho nó. Nó ngoạm giỏ rượu vào mồm tha về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán: "Thấy chưa ông chủ, bánh, thịt,
rau, đồ ngọt, rượu nho của vua đã có đủ cả, giờ ta mới cùng mấy con
vật thưởng thức đây".
Chàng ngồi vào ăn uống, lại chia cả cho thỏ, cáo, sói, gấu, sư tử
cùng ăn và uống. Chàng thấy công chúa vẫn yêu mình nên vui lắm.
Ăn xong, chàng bảo: "Này ông chủ, tôi đã ăn uống như vua rồi, giờ
tôi muốn vào triều để xin lấy công chúa đây!". Chủ quán hỏi: "Xin
thế nào được! Công chúa đã có nơi có chốn rồi, mà hôm nay là ngày
cưới kia mà".
Chàng bèn rút túi ra lấy cái khăn tay mà công chúa đã cho
chàng ở trên núi rồng khi trước, trong khăn tay vẫn gói bảy cái lưỡi
của con quái. Chàng nói: "Ta đã có vật này trong tay, nó sẽ giúp ta
làm việc ấy". Chủ quán xem cái khăn rồi bảo: "Tin gì thì tin chứ
điều đó tôi không thể tin được. Tôi sẵn lòng xin cuộc cả nhà cửa,
sân vườn đây!". Chàng thợ săn lại lấy ra một cái túi trong đó có
nghìn đồng vàng, đặt lên bàn rồi nói: "Ta cũng xin cuộc số vàng
này".
Ở bàn ăn trong cung, vua hỏi công chúa: "Mấy con thú cứ đi ra
đi vào trong cung, chúng đến chỗ con có việc gì thế?". Nàng đáp:
"Con chẳng dám tâu trình đâu, xin cha cứ cho người đi gọi chủ
nhân của nó tới đây, cha sẽ rõ".
Vua sai kẻ hầu đến quán trọ mời người lạ mặt. Kẻ hầu đến,
đúng như chàng thợ săn đã đánh cuộc với chủ quán. Chàng bảo:
"Ông thấy chưa, ông chủ, vua sai kẻ hầu đi mời tôi đó, nhưng tôi
chẳng đi như thế này đâu".
Chàng lại bảo người hầu: "Ngươi về tâu vua xin hãy gởi hoàng
bào cho ta, xin hãy cấp cho ta một cỗ xe sáu ngựa với một số quân
hầu".
Vua được tin báo, hỏi công chúa: "Làm sao bây giờ?". Công chúa
đáp: "Xin cứ triệu và cấp mọi thứ như chàng đòi, sẽ không uổng
đâu". Vua bèn sai đem áo hoàng bào với một cỗ xe sáu ngựa cấp cho
chàng, lại cấp cho một số người để hầu hạ chàng. Chàng thợ săn
thấy đoàn người kéo đến, bảo chủ quán : "Thấy chưa, ông chủ, thế
là tôi đã được triệu, đúng như tôi đòi đấy nhé". Chàng mặc áo
hoàng bào, cầm theo chiếc khăn gói lưỡi rồng rồi lên xe vào chầu.
Vua thấy chàng đã đến, hỏi con gái: "Ta tiếp hắn thế nào đây?".
Nàng đáp: "Xin Người cứ ra đón, sẽ không uổng đâu".
Vua bèn đón chàng, đưa chàng vào, mấy con vật cũng đi theo
sau. Vua chỉ cho chàng ngồi cạnh mình với công chúa. Còn tên
nguyên soái ngồi ghế chú rể ở phía bên kia, nhưng gã không nhận
ra được chàng.
Vừa khi đó, bảy chiếc đầu rồng được đem bày. Vua phán: "Bữa
nay, ta gả con gái cho quan nguyên soái là để thưởng cái công đã
chém được bảy chiếc đầu này".
Chàng thợ săn liền đứng lên, ra mở từng đầu một hỏi: "Thế bảy
cái lưỡi rồng đâu?". Tên nguyên soái sợ tái mặt. Không biết trả lời
ra sao, sau cùng gã nói liều: "Rồng không có lưỡi".
Chàng thợ săn bảo: "Chỉ những đứa gian trá mới không có lưỡi,
còn lưỡi rồng chính là vật chứng của người thắng trận". Chàng cởi
chiếc khăn ra, bảy cái lưỡi vẫn nguyên đó. Chàng lắp từng cái một
vào từng đầu rồng, quả nhiên đều khớp hết. Sau đó chàng lại đưa
cho công chúa xem chiếc khăn thêu tên nàng và hỏi nàng đã cho ai
chiếc khăn này. Công chúa đáp: "Cho người đã chém chết con rồng".
Chàng lại gọi từng con vật lại, tháo lấy mấy sợi dây buộc ở cổ chúng
rồi tháo cả cái khóa vàng ở cổ sư tử, đưa cho công chúa và hỏi của
ai. Nàng đáp: "Mấy sợi dây buộc cổ và cái khóa vàng này đều là của
thiếp, thiếp chia cho mấy con vật để thưởng chúng đã góp công giết
rồng".
Khi ấy chàng thợ săn mới nói: "Thừa lúc thần đánh rồng xong,
mệt mỏi ngủ mất, tên nguyên soái kia đã đi đến chặt đầu thần. Sau
đó, gã đưa công chúa đi và mạo nhận là chính gã đã chém rồng.
Mấy cái lưỡi, chiếc khăn tay với mấy sợi dây buộc cổ đây chứng
minh là gã nói dối".
Chàng lại kể tiếp chuyện mấy con vật đã đi kiếm rễ cây thần về
cứu chàng như thế nào, một năm qua chàng đã đi phiêu dạt những
đâu, rồi cuối cùng lại quay trở về đúng nơi đây, nhờ chủ quán trọ
nói cho nghe mà biết được mưu gian của tên nguyên soái.
Vua bèn hỏi công chúa: "Có đúng người này đã chém rồng
không?". Nàng đáp: "Tâu, đúng thế, giờ con mới dám nói ra cái tội
của tên nguyên soái. Con không nói thì chuyện cũng lộ rồi. Nó đã
bức con phải hứa giữ kín. Mà con xin để một năm lẻ một ngày sau
hãy làm lễ cưới, chính cũng vì chuyện ấy".
Vua cho triệu mười hai mưu sĩ đến để luận tội tên nguyên soái.
Các mưu sĩ khép hắn vào án tử hình. Xử tội hắn xong, vua cho
chàng thợ săn lấy công chúa, lại phong chàng làm phó vương trong
cả nước. Đám cưới được tổ chức rất trọng thể. Phó vương cho người
đi triệu bố đẻ và bố nuôi mình, tặng hai người rất nhiều châu báu.
Chàng cũng không quên người chủ quán trọ. Chàng cho triệu người
ấy vào, bảo: "Thấy không, ông chủ, tôi đã lấy công chúa rồi, nhà cửa
sân vườn nhà ông giờ là của tôi". Chủ quán thưa: "Thưa như vậy là
đúng lý". Nhưng vị phó vương đã bảo: "Thôi để ta khoan hồng cho:
nhà cửa sân vườn ông cứ giữ, còn nghìn vàng nọ ta tặng thêm cho
ông đó". Còn người bác nghe chuyện, sợ chàng hỏi tội trốn đi mất.
Phó vương với công chúa từ đó sống rất vui vẻ và hạnh phúc. Chàng
đi săn luôn, vì đó là sở thích của chàng và mấy con vật trung thành
thường đi theo chủ.
Gần đó có một khu rừng. Người ra đồn trong rừng có quỷ và ít
ai vào rừng mà lại ra được. Vị phó vương trẻ tuổi rất muốn đi vào
đó săn. Chàng cứ nài mãi, cuối cùng ông vua già phải bằng lòng cho
chàng đi. Chàng lên ngựa, đem theo một đoàn tùy tùng rất đông.
Vào đến cửa rừng thấy con hươu cái lông trắng như tuyết. Chàng
bảo những người theo hầu: "Các người hãy chờ ta ở đây, ta muốn đi
săn con thú đẹp đẽ kia". Chàng thúc ngựa đuổi theo hươu vào rừng,
chỉ có mấy con vật theo chàng thôi.
Đoàn người đứng lại đợi cho đến chiều, không thấy chàng ra.
Họ đành quay ngựa về báo với công chúa: "Phó vương đuổi theo một
con hươu trắng vào khu rừng thiêng rồi không thấy trở ra".
Công chúa lo cho chồng vô cùng. Trong lúc ấy, chàng vẫn mãi
đuổi con thú mà không sao theo kịp nó được. Cứ đúng lúc chàng
thấy vừa tầm bắn thì nó lại nhảy xa hơn và cứ thế sau rồi nó biến
đâu mất.
Lúc này chàng mới thấy mình đã vào quá sâu trong rừng.
Chàng đưa tù và lên rúc một hồi, không thấy trả lời vì không ai
nghe được tiếng tù và của chàng. Tối đến, thấy rõ mình không kịp
về nữa, chàng xuống ngựa, bên một gốc cây đốt lửa định bụng sẽ
ngủ đêm tại đó.
Chàng vừa ngồi xuống bên đống lửa, mấy con vật cũng nằm
quanh đó, chợt nghe văng vẳng như có tiếng người. Chàng nhìn
quanh nhưng chẳng thấy gì. Lúc sau lại thấy có tiếng rên ở trên
cao. Chàng nhìn lên thấy một mụ già ngồi vắt vẻo trên cây, đang
rên rỉ: "Hu, hu, hu, rét quá!". Chàng bảo mụ: "Rét thì xuống đây mà
sưởi".
Nhưng mụ ta đáp: "Chịu thôi, lũ súc vật của người sẽ cắn ta
mất".
Chàng lại bảo: "Chúng không làm gì mẹ đâu, mẹ ơi, cứ xuống
đây".
Mụ già ấy chính là một mụ phù thủy. Mụ bảo: "Để ta ném cây
gậy xuống. Người cứ lấy cây gậy đập lên lưng chúng là chúng sẽ
không làm gì ta nữa đâu". Nói rồi mụ ném xuống một cái gậy nhỏ.
Chàng lấy gậy đập lên lưng mấy con vật. Tức thì chúng nằm yên và
bị hóa đá ngay tức khắc. Không phải lo về mấy con vật nữa, mụ phù
thủy mới nhảy xuống, lấy cây gậy đập nốt vào người chàng, biến
chàng thành đá. Xong mụ rú lên cười, lôi chàng và mấy con vật
xuống một cái hố, trong lòng hố có nhiều tảng đá loại ấy rồi.
Công chúa ở nhà đợi mãi không thấy chồng về, càng lo sợ.
Vừa khi ấy, người anh lúc chia tay đi về hướng đông, nay cũng
tới xứ này. Chàng đi tìm việc làm chẳng được, cứ lang thang đây đó,
dạy mấy con vật nhảy múa làm trò vui. Một ngày kia, chàng muốn
về thăm gốc cây, chỗ hai người đã cắm lưỡi dao lúc chia tay để xem
em mình ra sao.
Trở về đó, chàng thấy bên mặt dao của em đã bị rỉ mất một
nửa, chỉ còn một nửa vẫn sáng. Chàng lo quá, thầm nghĩ: "Chắc em
ta gặp nạn lớn rồi, nhưng may ra còn cứu được, vì nửa dao kia vẫn
sáng. Chàng vội dẫn súc vật đi về hướng tây. Lúc tới cổng thành,
lính canh hỏi có cần phải vào tin cho hoàng hậu biết không: từ mấy
hôm nay, hoàng hậu rất lo vì sự vắng mặt của phó vương, người chỉ
sợ phó vương đã gặp họa trong rừng mất rồi.
Lính canh tưởng chàng chính là vị phó vương trẻ tuổi, vì nom
chàng giống em như hệt, lại cũng có một đàn súc vật đi theo. Khi ấy
chàng biết tên lính đã nhầm mình với em mình, bèn tự nghĩ thầm:
"Tốt nhất là ta hãy nhận đi, sẽ càng dễ cứu em hơn". Chàng liền để
tên lính đưa mình vào trong cung và được đón tiếp rất vui vẻ. Công
chúa cũng tưởng đó là chồng mình nên hỏi: "Tại sao chàng vắng
nhà lâu thế?". Chàng đáp: "Ta bị lạc vào rừng, mãi mới tìm được lối
ra". Tối đến chàng nằm trên giường em, để một thanh kiếm hai lưỡi
chắn giữa mình và công chúa. Công chúa chẳng hiểu thế nào,
nhưng không dám hỏi.
Chàng ở lại vài ngày, thăm dò mọi tin tức về khu rừng thiêng
nọ, rồi chàng bảo: "Ta phải đến đó săn lần nữa". Vua và công chúa
muốn can ngăn mà không được. Chàng dẫn một đoàn tùy tùng rất
đông lên đường. Vào đến rừng, chàng cũng gặp đúng mọi sự như em
mình trước đó. Chàng thấy một con hươu trắng, bèn bảo những
người đi theo: "Hãy đợi ta ở đây, ta muốn săn con thú kia". Chàng
thúc ngựa vào rừng, mấy con vật chạy theo sau chàng. Nhưng
chàng không tài nào đuổi kịp được con hươu. Vào đã sâu quá, tối
đến chàng phải ngủ lại trong đó. Vừa khi đốt được đống lửa, chàng
nghe trên đầu có tiếng rên: "Hu, hu, hu, rét quá!". Chàng nhìn lên,
thấy mụ phù thủy ngồi trên cây. Chàng bảo: "Nếu rét, thì xuống
đây mà sưởi mẹ ạ". Mụ đáp: "Chịu thôi, lũ súc vật của người sẽ cắn
ta mất". Nhưng chàng lại bảo: "Chúng không làm gì mẹ đâu". Mụ
bèn gọi xuống: "Ta sẽ ném cho người một cái gậy, người lấy gậy ấy
mà đập chúng thì chúng sẽ không làm gì ta nữa".
Chàng thợ săn nghe thấy thế không tin mụ già nữa. Chàng
bảo: "Ta sẽ không đánh mấy con vật của ta đâu, mụ hãy xuống đi,
bằng không ta sẽ lôi mụ xuống". Mụ bèn hét lên: "Mày muốn gì
nào? Mày làm gì được ta?". Nhưng chàng đáp: "Mụ không xuống thì
ta sẽ bắn mụ ngã xuống". Mụ bảo: "Mày cứ việc bắn, ta không sợ gì
mấy viên đạn của mày". Chàng giơ súng bắn, nhưng vì đạn chì nên
không thể xuyên vào người mụ, Mụ cười sằng sặc và hét: "Mày
không tài nào bắn trúng được ta đâu!". Chàng thợ săn đã biết,
chàng vội rứt ba cái cúc bạc trên áo nạp luôn vào nòng súng. Vì
như thế, tà thuật của mụ không linh thiêng nữa, nên khi chàng
bấm cò thì nó hét lên lộn nhào ngay xuống đất. Chàng dẫm một
chân lên người nó, bảo: "Con mụ phù thủy già, nếu mày không chịu
thú em ta hiện ở đâu thì ta sẽ sách mày quăng luôn vào đống lửa".
Mụ sợ quá, xin tha và nói: "Chàng cùng mấy con vật đã bị hóa đá ở
dưới một cái hố". Chàng liền bắt mụ dẫn tới đó, đe mụ và bảo: "Con
khỉ độc già kia, giờ mày phải làm cho em ta và mọi vật ở dưới này
sống lại. Bằng không ta sẽ ném mày vào lửa".
Mụ vội lấy gậy khẽ động vào các tảng đá, tức thì em chàng với
mấy con vật đều sống lại, cả nhiều người khác nữa, lái buôn, thợ
thủ công, mục đồng. Mọi người đứng dậy, cảm ơn cứu mạng, rồi kéo
nhau về. Hai anh em gặp nhau, ôm hôn, vui mừng khôn kể. Hai
người túm lấy mụ phù thủy, trói mụ lại vứt vào lửa. Sau khi mụ
chết thiêu rồi, khu rừng tự nó cũng biến đổi, trở nên quang đãng
sáng sủa hơn, có thể thấy được cung điện chỉ các đó ba giờ đường
bộ.
Hai anh em cùng về. Dọc đường, hai người kể cho nhau nghe
chuyện mình. Khi người em báo tin là chàng được thay vua trị vì
cả nước thì anh bảo: "Điều ấy anh đã biết. Lúc anh vào thành,
người ta cứ tưởng anh là chú nên đã dành cho anh mọi thứ nghi lễ
của các bậc vua chúa. Ngay công chúa cũng tưởng anh là chồng nên
anh đã phải ăn cùng bàn, nằm cùng giường với nàng".
Em nghe tới đó nổi ghen, điên tiết rút kiếm chém một nhát đứt
lìa đầu anh. Đến lúc thấy anh nằm chết đó, máu tuôn chảy thì anh
hối hận vô cùng. Chàng kêu lên: "Anh ta đã cứu ta mà giờ ta nỡ hại
người", rồi khóc lóc thảm thiết.
Thỏ chạy lại xin cho đi lấy rễ cây trường sinh. Nó đi rồi về còn
vừa kịp: người chết sống lại và không biết gì về vết thương trên
mình cả.
Hai người lại đi tiếp. Em bảo: "Nom anh giống em như hệt.
Anh cũng mặc áo hoàng bào như em, đằng sau cũng có mấy con vật
kéo theo. Ta thử vào hai cổng khác nhau rồi từ hai phía cùng đi vào
chỗ vua ngự xem thế nào?".
Hai người tách ra. Sau đó vua thấy cùng một lúc lính canh ở
hai cổng khác nhau cùng báo là phó vương dẫn mấy con vật đi săn
về.
Vua phán: "Sao lại thế được, hai cổng thành cách nhau có đến
một giờ đường bộ kia mà?". Trong khi ấy, hai anh em từ hai phía
khác nhau đã cùng vào tới trước sân lâu đài và đang cùng bước lên.
Vua hỏi công chúa: "Con bảo người nào là chồng con? Hai người
giống hệt nhau, ta không phân biệt được". Công chúa sợ lắm, chẳng
biết nói sao. Sau nàng chợt nhớ đến sợi dây vàng đã cho lũ súc vật
để buộc cổ. Nàng tìm một lúc thấy ngay chiếc khóa vàng ở cổ một
con sư tử. Nàng mừng quá, reo lên: "Người có con sư tử này đi theo
mới thật là chồng con". Phó vương cười bảo: "Đúng, đúng vậy đó".
Mấy người cùng ngồi vào bàn ăn uống rất vui vẻ.
Tối hôm ấy, lúc phó vương vào giường nằm, công chúa mới bảo:
"Tại sao mấy đêm trước, đêm nào chàng cũng đặt thanh kiếm hai
lưỡi giữa giường, thiếp cứ nghĩ là chàng có ý định chém chết thiếp".
Khi ấy phó vương mới rõ hết tấm lòng của anh mình.
Chân lý luôn thuộc về những con người trung hậu, dũng cảm.
Những thế lực đen tối luôn bị chặn đứng trước những con người
trung hậu, dũng cảm đó.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Người thợ săn tài giỏi

                         Xưa có một gã con trai học nghề thợ khóa. Một hôm anh thưa
cha, muốn ra ngoài thiên hạ để thi thố tài năng. Người cha bảo:
- Được con ạ, cha cũng bằng lòng thôi.
Ông đưa con lên đường và cho con một ít tiền. Anh con trai đi
tìm việc làm. Nhưng chỉ ít lâu sau, anh thấy chán nghề và thích đi
săn. Đang lang thang, anh gặp một bác thợ săn mặc quần áo màu
lục, hỏi anh từ đâu đến và định đi đâu. Anh bảo anh là thợ khóa,
giờ không thích nghề ấy nữa, muốn học săn bắn, không biết bác có
sẵn lòng nhận anh làm học trò không. Bác thợ săn đáp:
- Ồ, có chứ! Nếu chú thích thì cứ đi với tôi.
Anh đi theo, ở với bác mấy năm liền và được bác truyền nghề
cho. Ít lâu sau, anh lại xin đi để tìm dịp thử tài. Bác thợ săn trả
công cho anh một khẩu súng hơi. Súng này đặc biệt là bắn gì trúng
nấy.
Anh đến chỗ kia có khu rừng rậm, đi cả ngay vẫn chưa hết. Tối
đến, để tránh thú dữ, anh leo ngồi trên ngọn cây cao. Khoảng nửa
đêm, anh thấy ở xa có ánh lửa le lói. Anh nhìn kỹ qua đám cành lá,
cố nhớ chỗ ấy. Anh lại lấy mũ ném về phía ánh lửa, đánh dấu
đường. Xong anh tụt xuống nhặt mũ rồi cứ hướng ấy thẳng đường
đi tới.
Càng đi tới, ánh lửa càng rõ. Lúc đến gần, anh thấy một đống
lửa rất to, ba gã khổng lồ đương xiên một con bò nướng. Bỗng một
gã bảo:
- Tớ phải nếm xem sắp chín chưa.
Gã xé một miếng, sắp đưa vào miệng thì bị anh thợ săn bắn
một phát, thịt văng đi mất. Gã nói:
- Ôi chao, thế mà gió cũng thổi bay được miếng thịt mình cầm
đấy!
Gã xé miếng khác. Gã ghé răng vừa định cắn, lại bị anh thợ
săn bắn luôn phát thứ hai, thịt văng mất nốt. Gã cáu quá, tát gã
ngồi bên quát:
- Cậu giằng của tớ à?
Gã kia cãi:
- Tớ có giằng đâu, chắc tay thiện xạ nào bắn văng đi đấy.
Gã khổng lồ xé miếng thịt thứ ba, nhưng gã cầm chưa chắc tay
đã lại bị bắn văng luôn nốt.
Mấy gã bảo nhau:
- Người bắn rơi miếng ăn của ta nhất định phải là tay thiện xạ.
Thật là cần được một người như thế!
Cả ba gã gọi ầm ĩ:
- Này nhà thiện xạ ra đi nào! Ra đây sưởi ấm ăn no, bọn tớ
không làm gì cậu đâu! Nhưng nếu cậu không chịu ra, để bọn tớ phải
đi tìm thì lúc ấy xong đời cậu.
Anh bèn bước ra, nói anh là tay thợ săn lành nghề, bắn gì
trúng nấy. Chúng bảo nếu anh muốn đi với chúng, chúng sẽ cho đi.
Chúng kể cho anh biết, ở trước cửa rừng có một nàng công chúa
xinh đẹp, chúng đang muốn cướp nàng ấy. Anh nói:
- Được, việc ấy dễ thôi!
Chúng lại bảo:
- Nhưng còn điều này: ở đấy có con chó nhỏ, cứ thấy người đến
gần là nó sủa. Mà hễ nó sủa là kinh động cả triều đình. Cậu có bắn
chết con chó ấy được không?
Anh bảo:
- Được chứ, có khó gì cái trò mọn ấy.
Sau đó anh xuống thuyền qua sông. Lúc thuyền vào gần bờ, con
chó chạy ra định sủa. Anh bắn nó chết ngay. Bọn khổng lồ thấy thế
mừng lắm, chắc mẩm phen này sẽ cướp được công chúa. Nhưng anh
muốn vào xem tình hình ở trong động tĩnh thế nào đao. Anh bảo
chúng cứ đứng đợi, chờ anh gọi.
Anh vào trong lâu đài, thấy thật yên tĩnh. Anh mở cửa phòng
đầu tiên, thấy trên tường treo thanh kiếm bạc, có đính ngôi sao
vàng và khắc tên vua. Trên bàn cạnh đấy, có lá thư niêm phong gắn
xi. Anh xé thư đọc. Thư viết: "Ai lấy được kiếm thì chém ai cũng
chết". Anh lấy kiếm đeo rồi lại đi. Sang đến căn phòng công chúa
ngủ, thấy nàng đẹp quá, anh nín thở ngắm mãi, bụng nghĩ: "Người
con gái ngây thơ thế, sao ta nỡ để vào tay mấy người khổng lồ hung
bạo và nham hiểm?". Anh nhìn quanh, thấy một đôi hài dưới gầm
giường. Hài bên phải đính một ngôi sao có tên vua. Hài bên trái
cũng đính một ngôi sao có tên công chúa. Cổ nàng quấn chiếc khăn
lụa lớn thêu kim tuyến, vạt bên phải thêu tên vua với một ngôi sao,
vạt bên trái thêu tên nàng với một ngôi sao, chữ vàng rực rỡ. Anh
lấy kéo cắt vạt khăn bên phải bỏ túi. Anh bỏ túi cả chiếc hài bên
phải thêu tên vua. Trong lúc ấy, người con gái vẫn ngủ say, người
như vùi trong áo. Tiện tay anh cắt một mảnh áo đút nốt vào túi kia.
Anh làm rất nhẹ nhàng, không động đến người nàng.
Xong anh ra đi, để nàng ngủ yên. Lúc anh đến cổng, bọn khổng
lồ đợi ở ngoài tưởng anh đem công chúa ra. Anh gọi chúng vào bảo:
người thiếu nữ đó ở tay anh rồi. Anh không mở được cổng, nhưng
cổng có lỗ hổng, chúng phải chui mà vào. Đợi gã thứ nhất lại, anh
túm tóc kéo đầu nó, chặt một nhát, đoạn kéo cả người nó vào trong
nốt. Xong anh gọi đứa thứ hai, chặt đầu nó rồi đến đứa thứ ba và
rất mừng là cứu được công chúa khỏi tay kẻ thù. Anh xẻo lưỡi mấy
đứa, bỏ túi. Khi ấy anh nghĩ bụng: "Hay ta về cho cha biết những
việc ta làm đã, rồi ta lại đi quanh thiên hạ, nhất định sẽ gặp vận".
Vua ở trong lâu đài thức dậy thấy xác ba đứa khổng lồ, vội
chạy sang phòng công chúa hỏi ai đã giết lũ giặc. Công chúa thưa:
- Tâu vua cha, con ngủ say nên không biết.
Công chúa tỉnh dậy, định mang hài thì chiếc bên phải đã mất.
Nàng nhìn khăn thấy mất vạt bên phải, nhìn áo cũng thấy mất một
mảnh.
Vua cha hội cả triều thần, binh tướng, hỏi ai đã giết lũ khổng
lồ, cứu công chua. Có tên đại úy chột mắt, xấu trai đứng ra nhận
liền.
Vua bèn phán gả công chúa cho gã để thưởng công. Công chúa
thưa:
- Tâu vua cha, thà con bỏ nhà ra đi, chứ con không thể lấy tên
ấy được!
Vua truyền nếu nàng không vâng lời thì bắt nàng cởi trả hoàng
y, mặc quần áo nông thôn rồi đuổi đi. Nàng phải tới một hàng nồi
kia để ngồi bán nồi đất.
Công chúa trả hoàng y, đến nhà hàng nồi hỏi mượn trước một
số nồi, hẹn chiều bán xong sẽ trả tiền.
Vua lại bắt nàng phải dọn hàng ngay ở góc đường. Xong vua
thuê mấy chiếc xe, sai đánh chạy qua giữa đám nồi đất cho vỡ hết.
Công chúa vừa dọn hàng thì đoàn xe kéo đến, cán vỡ tất.
Nàng khóc nói:
- Trời ơi, giờ biết lấy gì đền nhà hàng!
Vua muốn dùng cách ấy để buộc nàng lấy viên đại úy. Nhưng
nàng lại đến hàng nồi, hỏi mượn thêm chuyến hàng nữa. Nhà hàng
không chịu, bắt nàng phải nộp lại đủ số tiền lần trước đã. Nàng về
kêu khóc với cha, nói nàng muốn đi xa.
Vua phán:
- Ta sẽ cho dựng một cái lán nhỏ trong rừng, ngươi vào đó mà ở.
Ngươi sẽ phải nấu ăn cho bất kỳ ai mà không được lấy tiền.
Lán dựng xong, ngoài cửa treo tấm biển đề: "Hôm nay không
lấy tiền, mai sẽ lấy". Công chúa đến đấy ở. Tin truyền đi chỗ nọ có
người con gái nấu ăn không lấy tiền, biển treo ngoài cửa đề rõ ràng
như thế.
Tin đồn đến tai anh thợ săn. Anh nghĩ bụng: "Đấy là dịp tốt
cho mình, mình nghèo xơ xác, một xu không có". Anh khoác súng,
đeo túi đi. Trong túi còn nguyên những thứ đã lấy ở lâu đài làm vật
chứng. Vào rừng, anh tìm thấy cái làn có biển đề: "Hôm nay không
lấy tiền, mai sẽ lấy". Anh vẫn đeo thanh kiếm dùng để giết ba gã
khổng lồ, bước vào xin ăn. Anh mừng rỡ thấy người con gái đẹp quá,
cứ như tranh vẽ. Nàng hỏi anh từ đâu lại và định đi đâu. Anh đáp:
- Tôi ngao du thiên hạ.
Nàng thấy tên cha mình trên đốc kiếm, hỏi anh đã lấy nó ở
đâu. Anh hỏi nàng có phải là công chúa không. Nàng đáp:
- Đúng.
Anh bảo:
- Chính tôi ngày ấy đã chặt đầu ba đứa khổng lồ bằng thanh
kiếm này.
Anh lấy xâu lưỡi trong túi ra làm chứng, lại cho nàng xem cả
chiếc hài, vạt khăn và mảnh áo. Nhận ra người cứu mình, công
chúa vui mừng khôn xiết.
Sau đấy, hai người về gặp vua. Công chúa dẫn vua về phòng
riêng của mình ngày trước, đoạn tâu để vua rõ: Chính anh thợ săn
mới là người đã cứu mình và giết lũ khổng lồ. Vua thấy vật chứng
rành rành, không ngờ gì nữa mới phán: "Giờ mọi sự đã rõ ràng là
điều rất tốt. Ta thuận cho chàng thợ săn làm phò mã". Công chúa
nghe phán mừng vô hạn.
Sau đấy người ta cho anh thợ săn ăn mặc giả làm khách lạ.
Vua truyền bày tiệc cưới. Khách vào bàn tiệc, tên đại úy ngồi bên
trái công chúa, anh thợ săn ngồi bên phải công chúa. Tên đại úy cứ
tưởng anh là khách mời đến. Ăn uống xong, vua phán người có điều
muốn hỏi để tên đại úy thử đoán xem: "Có kẻ dám nhận đã giết ba
đứa khổng lồ, người ta mới hỏi lưỡi mấy đứa ấy đâu, nó ra tìm thấy
đầu lâu không có lưỡi, thì thế nào?"
Tên đại úy tâu:
- Tất mấy đứa kia không có lưỡi.
Vua phán:
- Nói sai rồi. Phàm động vật, giống nào lại không có lưỡi.
Vua hỏi tiếp:
- Với kẻ nói sai, nên xử lý thế nào?
Tên đại úy đáp:
- Tâu, phải đuổi nó ra ngoài cõi
Vua phán: "Thế là nó tự kết án nó rồi". Người sai đuổi tên ấy ra
ngoài cõi.
Công chúa lấy anh thợ săn. Phò mã cho đón cha mẹ đến để
phụng dưỡng. Cả nhà đoàn tụ êm ấm. Sau khi vua mất, phò mã lên
nối ngôi.
Câu chuyện kể về anh chàng thợ săn tài giỏi và tấm lòng trung
thực của nàng công chúa. Những kẻ gian dối rồi cũng bị lôi ra ánh
sáng, người có công, trung thực sẽ được đền bù xứng đáng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét