Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015

Truyện Cổ Grim phần 3

Truyện cổ Grim

Cô bé hai mắt

                         Ngày xưa, có một bà có ba cô con gái. Con lớn tên là Một Mắt vì
cô chỉ có độc một mắt ở giữa trán. Cô thứ hai tên là Hai Mắt vì cô có
hai mắt như mọi người khác. Cô út tên là Ba Mắt vì cô có ba mắt,
mắt thứ ba cũng ở giữa trán.

Cô Hai Mắt giống y như những người thường khác nên bị mẹ,
chị và em không chịu được.
Họ bảo cô:
- Có hai mắt thì cũng chẳng hơn gì người thường, không phải là
họ hàng nhà ta.
Họ thấy cô đâu là xua đấy, quẳng cho cô quần áo xấu xí, chỉ cho
cô thức ăn thừa, tìm đủ cách làm cho cô đau khổ.
Có lần cô Hai Mắt ra đồng chăn dê, đói lắm vì chị và em cho ăn
ít quá. Cô liền ngồi xuống bờ ruộng khóc lóc thảm thiết, nước mắt
tuôn ra như hai dòng suối nhỏ.
Đang than vãn, cô ngẩng lên thấy một bà đứng bên mình hỏi:
- Hai Mắt, sao con lại khóc?
Hai Mắt trả lời:
- Con không khóc sao được? Chỉ vì con có hai mắt như người
bình thường, mẹ, chị và em không chịu được, xua con từ xó này
sang xó khác, quăng cho con quần áo cũ, chỉ cho con ăn cơm thừa
canh cặn. Hôm nay ở nhà cho con ăn ít quá, con đói lắm.
Bà lão bảo:
- Hai Mắt, con hãy lau mặt đi, bà sẽ bảo con cái này để con
không bị đói nữa. Con cứ việc bảo con dê cái của con:
Này dê con, hãy be lên!
Thức ăn, này hỡi bàn xinh, hãy bày!
Thì lập tức trước mắt con sẽ hiện ra một cái bàn xinh xắn, ở
trên bày các thức ăn ngon lành, con tha hồ ăn. Sau khi con ăn no
rồi, không cần đến bàn nữa, thì con chỉ việc nói:
Này dê con, hãy be be!
Chiếc bàn xinh, hãy biến đi, biến này!
Thì bàn lập tức sẽ biến mất.
Sau đó, bà lão đi. Hai Mắt nghĩ bụng: "Mình phải thử ngay
xem lời bà dặn có đúng không vì mình đói quá". Cô nói:
Này dê con, hãy be lên!
Thức ăn, này hỡi bàn xinh, hãy bày!
Nói chưa dứt lời, thì có một chiếc bàn xinh xắn phủ chiếc khăn
nhỏ trắng tinh hiện ra. Trên bàn có đĩa, dao, dĩa, thìa bạc, đầy các
thức ăn tuyệt ngon còn nóng, hơi lên nghi ngút như vừa bưng ở
dưới bếp lên.
Hai Mắt ăn uống ngon lành. No nê rồi, cô lại nói như lời bà lão
dặn:
Này dê con, hãy be be!
Chiếc bàn xinh, hãy biến đi, biến này!
Lập tức chiếc bàn xinh xắn và các thứ ở trên biến mất. Hai Mắt
nghĩ bụng làm nội trợ kiểu ấy thật thú vị, cô hả hê vui thích lắm.
Buổi tối, cô chăn dê về nhà, thấy có chiếc bát sành đựng thức
ăn mà chị và em để phần cho, nhưng cô không đụng đến. Ngày hôm
sau cô lại chăn dê đi, để nguyên mấy mẩu bánh phần cô. Lần đầu
và lần thứ hai, chị và em không để ý, nhưng cứ thế mãi nên họ cũng
biết và nói:
- Con Hai Mắt có điều gì khả nghi. Không lần nào nó đụng đến
thức ăn, thế mà mọi khi để cho nó cái gì là nó chén hết sạch cơ mà.
Phải tìm cho ra đầu đuôi việc này mời được.
Khi Hai Mắt ra đi. Một Mắt đến bảo:
- Để tao đi ra đồng với, xem mày chăn dê có tốt không, mày có
chịu đưa dê đi ăn ở nơi tốt cỏ không.
Nhưng Hai Mắt đã biết được ý định của Một Mắt, cô chăn dê
đến đồng cỏ rậm và bảo:
- Chị Một Mắt ạ, chị em mình ngồi xuống rồi em hát cho chị
nghe.
Một Mắt ngồi xuống, mệt quá vì chưa quen đi đường và vì trời
nắng chang chang, còn Hai Mắt cứ hát mãi:
Một Mắt ơi, chị còn thức không?
Một Mắt ơi, chị ngủ đấy à?
Một Mắt nhắm mắt độc nhất của mình lại mà ngủ. Lúc Hai
Mắt thấy một mắt đã ngủ say, việc không thể lộ được, cô mới bảo:
Này dê con, hãy be lên!
Thức ăn, này hỡi bàn xinh, hãy bày!
Cô ngồi vào chiếc bàn xinh xắn, ăn uống no nê rồi lại nói:
Này dê con, hãy be be!
Chiếc bàn xinh, hãy biến đi, biến này!
Tất cả mọi thứ đều biến ngay.
Hai Mắt liền đánh thức Một Mắt dậy mà bảo:
- Chị Một Mắt ạ, chị định đi chăn dê mà lại ngủ à? Trong khi
đó dê nó có thể chạy khắp thiên hạ mất. Thôi ta về nhà chị ơi.
Hai người về nhà. Hai Mắt để nguyên không đụng đến thức ăn.
Một Mắt không cho mẹ biết được tại sao em không chịu ăn. Nó xin
lỗi mẹ:
- Con ra đồng ngủ quên đi mất.
Hôm sau, mẹ bảo Ba Mắt:
- Lần này, mày đi cùng phải để ý xem con Hai Mắt ra ngoài có
ăn gì không, có ai mang gì đến cho nó ăn uống không, vì nhất định
là nó phải ăn uống lén lút.
Ba Mắt đến bảo Hai Mắt:
- Em muốn đi với chị để xem chị chăn dê có tốt không, chị có
đưa dê đi ăn nơi tốt cỏ không?
Nhưng Hai Mắt đỗán được ý định của Ba Mắt nên cô chăn dê
đến đồng cỏ rậm rồi bảo:
- Em Ba Mắt ạ, ta ngồi đây. Chị sẽ hát cho em nghe.
Ba Mắt ngồi xuống. Đường xa, trời nắng, nên người mệt nhoài.
Hai Mắt lại bắt đầu hát bài hát hôm trước:
Ba Mắt ơi, thức đấy ư?
Nhưng sau đáng lẽ phải hát:
Ba Mắt ơi, ngủ đấy à?
Thì cô lại đãng trí hát:
Hai Mắt ơi, ngủ đấy à?
Rồi cứ hát mãi:
Ba Mắt ơi, thức đấy ư?
Hai Mắt ơi, ngủ đấy à?
Hai con mắt của Ba Mắt nhắm lại ngủ, còn con mắt thứ ba
không bị phép của câu thần chú nên không ngủ. Thật ra thì Ba Mắt
nhắm cả mắt thứ ba, nhưng nó nhắm giả vờ làm như ngủ, nó nhấp
nháy để có thể nhìn rõ được hết mọi việc. Hai Mắt tưởng là Ba Mắt
đã ngủ say rồi, liền niệm chú:
Này dê con, hãy be lên!
Thức ăn, này hỡi bàn xinh, hãy bày!
Cô ăn uống no nê rồi bảo chiếc bàn nhỏ biến đi:
Này dê con, hãy be be!
Chiếc bàn xinh, hãy biến đi, biến này!
Ba Mắt trông thấy hết. Hai Mắt đến chỗ nó đánh thức dậy bảo:
- Úi chà. Ba Mắt em ngủ à? Thế mà cũng đòi đi chăn dê? Thôi
ta về nhà đi!
Về đến nhà, Hai Mắt lại không ăn. Ba Mắt liền mách mẹ:
- Giờ thì con biết tại sao cái con làm bộ ấy nó không ăn rồi. Ở
ngoài đồng nó nói "Này dê con, hãy be lên! Thức ăn, này hỡi bàn
xinh, hãy bày!" thì có một chiếc bàn nhỏ bày đầy thức ăn, thức uống
tuyệt ngon, ngon hơn ở nhà ta nhiều, hiện ra. Nó ăn uống no nê rồi
nó bảo: "Này dê con, hãy be be! Chiếc bàn xinh, hãy biến đi, biến
này!" thì mọi thứ đều biến mất. Con trông thấy tất cả rõ mồn một.
Hai mắt nó niệm thần chú cho con ngủ, nhưng may còn con mắt
trên trán vẫn thức. Người mẹ đố kỵ liền kêu lên:
- A, mày lại đòi hơn chúng tao à! Phải cho mày chừa cái thói ấy
đi!
Mụ lấy dao mổ lợn, đâm trúng tim dê, dê khuỵu xuống chết.
Hai Mắt thấy vậy, buồn bã đi ra ngồi bờ ruộng khóc lóc thảm
thiết. Bà lão bỗng lại hiện ra bên cô mà bảo:
- Hai Mắt làm sao con khóc?
Cô đáp:
- Con không khóc sao được! Mẹ con đã đâm mất con dê mà
hàng ngày, khi con niệm câu thần chú của bà, nó dọn thức ăn thật
ngon cho con ra bàn. Giờ thì con lại phải chịu đói khát, khổ sở rồi.
Bà lão bảo:
- Hai Mắt ạ! Để bà bày cho con một kế hay: con hãy xin chị và
em lấy bộ lông của con dê đã bị giết, con đem chôn ở trước cửa rồi sẽ
gặp may.
Nói xong bà lão biến mất. Hai Mắt về nhà bảo chị và em:
- Chị và em yêu dấu ơi, dê ấy của tôi, cho tôi xin chút đỉnh của
nó với. Tôi chẳng dám xin gì ngon lành đâu, chỉ xin bộ lông mà thôi.
Hai đứa cười ồ lên bảo:
- Ừ, nếu chỉ xin có thế thì cứ việc mà lấy đi.
Hai Mắt lấy bộ lông, đến tối theo lời bà lão dặn lặng leo đem
chôn trước cửa nhà.
Sáng hôm sau, khi cả nhà cùng dậy ra cửa thì thấy có một cây
kỳ lạ, đẹp lộng lẫy, quả vàng xen giữa lá bạc, trần gian không có gì
đẹp bằng. Không ai biết tại sao qua một đêm, cây ở đâu mọc ra. Chỉ
có Hai Mắt biết rõ là cây ở lông dê mọc lên vì nó mọc đúng ở nơi
chôn bộ lông.
Mẹ liền bảo :
- Một Mắt, con trèo lên hái quả xuống.
Một Mắt trèo lên, nhưng cứ định hái một quả táo vàng thì cành
lại tuột khỏi tay. Mà lần nào cũng như vậy, khiến cho nó không hái
được quả nào, hái mãi cũng không được.
Mẹ liền bảo:
- Ba Mắt, con hãy trèo lên, con có ba mắt, ắt là nhìn rõ hơn Một
Mắt.
Một Mắt tụt xuống. Ba Mắt trèo lên. Nhưng Ba Mắt cũng
chẳng tài gì hơn, với mãi mà vẫn cứ bị hụt, táo vàng vẫn cứ thụt lại.
Sau bà mẹ sốt ruột, đích thân trèo cây, nhưng định hái quả thì
lại chỉ nắm không khí, chẳng hơn Một Mắt và Ba Mắt:
Hai Mắt liền bảo:
- Để tôi lên xem sao, có thể là được.
Chị và em gái nói:
- Đồ Hai Mắt thì làm được trò trống g´!
Nhưng khi Hai Mắt trèo lên, táo vàng không thụt lại, mà tự ý
rơi vào tay cô, cô hái được hết quả nọ đến quả kia, mang xuống đấy
một tạp dề. Bà mẹ giật lấy. Đáng lẽ, mụ, Một Mắt và Ba Mắt phải
đối đãi tử tế hơn với cô Hai Mắt đáng thương, thì họ lại đố kỵ thêm
vì chỉ có mình cô hái được quả vàng. Họ đối với cô càng thêm cay
nghiệt.
Một hôm, họ đang đứng bên cây thì có một hiệp sĩ trẻ tuổi đi
tới.
Cô chị và cô em gọi:
- Hai Mắt ơi, nhanh lên, trèo xuống đi kẻo chúng tao ngượng cả
mặt vì mày.
Rồi hai người vớ vội một chiếc thùng rỗng để ở ngay gốc cây úp
lên cô Hai Mắt đáng thương. Chúng lại nhét tất cả táo vàng mà cô
hái được vào trong đó. Hiệp sĩ đến nơi. Ấy là một nhà quí phái rất
đẹp. Chàng ngừng lại ngắm cây táo vàng lộng lẫy và bảo cô chị và
cô em:
- Cây đẹp này của ai? Cho ta một cánh thì muốn xin gì ta cũng
cho.
Một Mắt và Ba Mắt vội đáp là cây của chúng, chúng sẵn sàng
bẻ cho chàng một cành. Hai chị em ra sức bẻ nhưng lần nào cành và
quả cũng thụt lại.
Chàng hiệp sĩ liền bảo:
- Quái lạ, sao cây của các cô mà các cô lại không hái được?
Chúng vẫn khăng khăng nói là cây của chúng. Trong khi ấy,
Hai Mắt ở dưới thùng để mấy quả táo vàng lăn đến chân hiệp sĩ vì
nàng bực tức là Một Mắt và Ba Mắt lại không chịu nói thật. Hiệp sĩ
thấy táo, ngạc nhiên hỏi táo từ đâu đến. Một Mắt và Ba Mắt đáp
chúng còn một người chị em, không dám để cho ra mắt vì cô cũng
chỉ có hai mắt như những người thường khác. Nhưng hiệp sĩ đòi
xem mặt cô và gọi:
- Cô Hai Mắt đâu, lại đây nào!
Hai Mắt bình tĩnh chui ở dưới thùng ra. Hiệp sĩ ngạc nhiên về
sắc đẹp của cô, hỏi:
- Chắc cô Hai Mắt bẻ được cho tôi một cành chứ!
Hai Mắt đáp:
- Thưa vâng, hẳn là được, vì cây của em.
Cô trèo lên cây, nhẹ nhàng bẻ một cành có lá bạc quả vàng thật
đẹp đưa cho hiệp sĩ.
Hiệp sĩ liền bảo:
- Cô Hai Mắt ơi, tôi trả công cô thế nào đây?
Hai Mắt đáp:
- Từ sáng tinh mơ đến tối mịt, em chịu đói khát, cơ cực, buồn lo,
nếu chàng chịu mang em đi để cứu em thì em thật là sung sướng.
Hiệp sĩ liền đỡ Hai Mắt lên ngựa, mang về lâu đài cha. Tới nơi,
chàng cho cô mặc quần áo đẹp đẽ, tha hồ ăn uống. Chàng yêu cô và
lấy cô làm vợ ... Lễ cưới rất vui vẻ.
Khi chàng hiệp sĩ đẹp trai mang Hai Mắt đi rồi, chị và em lồng
lên vì thấy cô sung sướng.
Hai cô nghĩ bụng: Cây thần còn ở tay ta, dù ta không hái được
quả nào, thì mọi người vẫn cứ phải ngừng lại, ngắm cây, vào tìm ta
để khen cây. Biết đâu rồi ta chẳng gặp may.
Nhưng sáng hôm sau, cây thần bỗng biến mất, hy vọng của hai
chị em cũng tiêu tan. Khi Hai Mắt từ trong phòng nhỏ nhìn ra, cô
mừng rỡ thấy cây đã theo cô và hiện lên.
Cô Hai Mắt hưởng hạnh phúc lâu dài. Một hôm, có hai người
đàn bà nghèo khó đến lâu đài cô xin ăn. Cô Hai Mắt nhận ra chị và
em mình. Một Mắt và Ba Mắt bị sa sút, nghèo túng, phải đi tha
phương cầu thực. Cô Hai Mắt niềm nở chào hai người, đối đãi tốt
với họ, chăm sóc họ, khiến họ hối hận, vì đã từng đối xử độc ác với
cô.
Câu chuyện thật là cảm động và qua câu chuyện này các em sẽ
thấy một bài học: trong cuộc đời ai có tấm lòng nhân hậu sẽ được
hưởng hạnh phúc, kẻ độc ác, xấu xa sẽ gặp phải nhiều bất hạnh.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Ba cô chị

                         Ngày xưa có một ông vua rất giàu, vua giàu đến nỗi tưởng là
của cải của mình không bao giờ hết được.Vua sống xa hoa, chơi bàn
cờ bằng vàng, con ki bằng bạc. Vua sống như thế một thời gian thì
của cải tiêu tan hết. Vua phải đem cầm lần lần những thành thị và
lâu đài, sau cùng chỉ còn có mỗi một tòa lâu đài cổ trong rừng. Vua,
hoàng hậu và ba công chúa dọn đến đấy ở, họ sống chật vật, hàng
ngày bữa ăn chỉ có khoai tây thôi.
Một hôm, vua định đi săn xem có bắn được con thỏ gì chăng.
Vua nhét khoai tây đầy túi rồi ra đi. Vua đến ven một khu rừng lớn
không dám vào vì người ta kể rằng trong đó có nhiều thú rùng rợn
lắm. Gấu ăn thịt người, phượng hoàng mổ mắt, chó sói, sư tử và
nhiều loại thú dữ. Vua chẳng sợ gì cả, tiến thẳng vào rừng. Thoạt
tiên vua không thấy gì. Có những cây to, ở dưới thật là yên lặng.
Vua đi vơ vẩn như vậy một lúc rồi thấy đói, liền ngồi xuống gốc cây
định ăn khoai tây, thì bỗng có một con gấu ở trong rừng hiện ra,
lạch bạch đến thẳng phía vua và càu nhàu:
Sao ngươi lại dám ngồi ở gốc cây mật ong của ta? Tội ngươi
thật đáng chết.
Vua sợ hãi, đưa cho nó khoai tây để nó nguôi giận. Nhưng gấu
cất tiếng nói:
-Ta thiết gì ăn khoai tây của ngươi, ta muốn ăn thịt ngươi cơ.
Ngươi chỉ có một cách thoát thân là gả cho ta con gái đầu lòng của
ngươi. Nếu ngươi bằng lòng thì ta còn cho thêm ngươi nửa tạ vàng
nữa.
Vua sợ bị ăn thịt nói:
- Ta sẽ gả cho, miễn là ngươi để cho ta yên lành.
Gấu liền chỉ đường cho vua về và còn càu nhàu sau lưng vua.
- Trong bảy ngày nữa, ta sẽ đến đón cô dâu đấy.
Vua yên trí về nhà, nghĩ nhất định là gấu không chui lọt nổi
loa khóa, hơn nữa nhất định là không có cái gì để ngỏ. Vua ra lệnh
cho khóa tất cả các cửa ngoài, kéo cầu treo lên, và dặn con gái phải
bình tĩnh. Muốn bảo vệ được cô chắc chắn khỏi bị chú rể gấu bắt đi,
vua cho cô ở một phòng nhỏ tít dưới lỗ châu mai trên mặt thành. Cô
phải trốn vào đấy cho qua bảy hôm. Nhưng sáng tinh sương hôm
thứ bảy, khi mọi người con ngủ thì có một cỗ xe lộng lẫy đóng sáu
ngựa đến lâu đài. Có nhiều kỵ sĩ mặc áo bằng vàng vây quanh xe.
Cỗ xe đến nơi thì tự nhiên cầu treo hạ xuống, khóa tự nhiên bật
tung ra, xe đi vào sân, một vị Hoàng tử trẻ và đẹp bước xuống. Vua
nghe tiếng động tỉnh dậy, nhìn ra cửa sổ thấy Hoàng tử đã đón con
gái đầu lòng của mình ở tít trên căn phòng nhỏ khóa kín, và vừa bế
nàng lên xe. Vua chỉ kịp kêu lên:
Thôi vĩnh biệt, thiếu nữ yêu kiều.
Đi đi mãi, hỡi cô dâu của gấu!
Cô ngồi trên xe còn vẫy chiếc khăn trắng nhỏ. Rồi cỗ xe phóng
đi như gió cuốn, tiến sâu mãi vào khu rừng thiêng.
Lòng vua nặng trĩu, vì vua đã chót gả con gái cho gấu. Vua
buồn quá, cùng hoàng hậu khóc ba ngày liền. Đến ngày thứ tư,
khóc hết nước mắt, vua nghĩ là việc đã xảy ra rồi cũng đành thôi.
Vua xuống sân, ở đấy có một cái hòm gỗ mun nặng khó mà nhấc lên
được. Vua chợt nghĩ đến điều gấu đã hứa, liền mở ra thì thấy trong
đó có nửa tạ vàng sáng lấp lánh.
Vua nhìn thấy vàng thì cũng nguôi buồn. Vua đem vàng chuộc lại
các thành thị đã đem cầm rồi lại quay về cuộc sống giàu sang ngày
trước. Cứ như thế cho đến khi hết nửa tạ vàng thì vua lại phải đem
cầm hết mọi thứ và lại phải lui về lâu đài trong rừng ăn khoai tây.
Vua còn có một con chim ưng. Một hôm, vua đem nó ra đồng
định kiếm lấy một cái gì ăn cho ngon một tí. Chim ưng cất cánh
bay, tới khu rừng thiêng âm u, vua không dám vào nữa. Vua vừa
tới thì có một con đại bàng vút lên đuổi chim ưng. Chim ưng bay về
phía vua. Vua định dùng giáo ngăn đại bàng, nhưng đại bàng quắp
lấy giáo bẻ gẫy như một cây sậy, rồi lấy móng bóp nát chim ưng. Nó
lấy móng kia quặp vào vai vua và bảo:
- Tại sao ngươi đến quấy rối khoảng trời của ta? Tội ngươi đáng
chết, muốn sống phải gả cho ta con gái thứ hai của ngươi.
Vua nói:
- Được, ngươi sẽ được con gái ta, nhưng ngươi cho ta gì.
Đại bàng đáp:
- Một tạ vàng. Trong bảy tuần nữa ta sẽ đến đón nàng về.
Rồi nó thả vua ra, bay thẳng vào rừng.
Vua rất buồn bã vì lại gả con gái thứ hai của mình cho chim dữ.
Vua không dám nói gì với con về việc ấy. Sáu tuần lễ đã trôi qua.
Đến tuần thứ bảy, công chúa ra một bãi cỏ trước lâu đài định giũ
vải phơi cho trắng. Bỗng có một đỗân kỵ sĩ oai phong lẫm liệt đến.
Người đẹp nhất đi đầu nhảy xuống gọi:
Hãy nhảy lên đây, hỡi thiếu nữ yêu kiều
Hãy cùng đi, hỡi cô dâu mới của đại bàng.
Nàng chưa kịp trả lời thì chàng đã đỡ nàng lên ngựa, phi vào
rừng nhanh như cắt. Thôi vĩnh biệt, vĩnh biệt!
Ở lâu đài, người ta đợi mãi chẳng thấy công chúa. Mãi sau vua
mới nhớ ra là có lần trong thế bí đã hứa gả con gái cho một con đại
bàng. Hẳn là nó đã đến đón cô đi. Khi vua đỡ đau buồn chút ít, chợt
nhớ đến lời hứa của chim đại bàng, liền đi đến và tìm thấy trên bãi
cỏ hai quả trứng vàng, mỗi quả nặng nửa tạ. Vua nghĩ bụng: "Cứ
có vàng là ngoan đạo" và xua đuổi tất cả những tư tưởng buồn chán
ra khỏi đầu óc. Cuộc sống vui chơi lại bắt đầu và đến khi hết nhẵn
tạ vàng. Vua lại dọn về lâu đài trong rừng và nàng công chúa còn
lại lại phải luộc khoai tây.
Vua không muốn đi săn thỏ trong rừng hay chim ưng trên trời
nữa, nhưng vua thèm ăn cá. Công chúa phải đan lưới để vua đi đánh
cá ở một cái hồ gần rừng. Ở đó có một chiếc thuyền quăng lưới, kéo
lên được một mẻ cá hương chấm đỏ rất đẹp. Vua định chèo vào bờ thì
thấy thuyền mắc chặt một chỗ, vua loay hoay mãi mà không trèo ra
được. Bỗng có một con cá voi to lớn vùng vẫy ngoi lên hỏi:
- Tại sao ngươi lại bắt những thần dân của ta? Tội ngươi thật
đáng chết!
Nó mở mồm to ra như định nuốt cả vua lẫn chiếc thuyền. Vua
thấy cái mồm kinh khủng của nó thì mất hết cả can đảm, chợt nghĩ
đến cô gái thứ ba liền kêu lên:
- Ngươi tha chết cho ta, ta sẽ cho ngươi con gái út của ta .
Cá voi càu nhàu:
- Được lắm, để rồi ta cho ngươi cái gì nhé. Vàng thì ta chẳng có
vì vàng đối với ta xoàng quá. Nhưng đáy hồ của ta rải ngọc châu, ta
sẽ cho ngươi ba bị đầy. Đến tháng thứ bảy ta sẽ lại đón dâu.
Nói xong con cá lặn xuống.
Vua ghé vào bờ, mang cá hương về nhà, nhưng khi cá đã rán
rồi vua chẳng thiết ăn con nào. Vua nhìn thấy con gái, đứa con độc
nhất còn lại, đẹp nhất, mà vua yêu nhất, thì vua lại nhói lên như
hàng ngàn mũi dao đâm vào thịt. Sáu tháng trôi qua, hoàng hậu và
công chúa chẳng hiểu làm sao mà vua mắt mũi lúc nào cũng ủ rũ.
Đến tháng thứ bảy, đúng lúc công chúa đang đứng ngoài sân,
trước một cái giếng có ống phun nước và hứng một cốc nước đầy thì
bỗng có một cỗ xe sáu ngựa trắng và người mặc quần áo bằng bạc đi
tới. Từ trên xe bước xuống một Hoàng tử rất đẹp, từ thủa nhỏ nàng
không thấy ai đẹp đến như thế. Chàng xin nàng một cốc nước. Nàng
vừa đưa cốc ra thì chàng ôm lấy nàng bế lên xe. Xe ra cửa băng qua
đồng tới hồ:
Thôi vĩnh biệt, thiếu nữ yêu kiều!
Hãy đi đi, cô dâu xinh đẹp của cá voi.
Hoàng hậu đứng bên cửa sổ nhìn thấy cỗ xe chạy xa dần.
Bà thấy vắng con gái, lòng đau xót, bà gọi nàng, tìm nàng khắp
nơi. Nhưng bà chẳng nghe thấy tiếng đáp, chẳng trông thấy nàng ở
đâu. Khi bà biết chắc chắn sự việc, bà òa lên khóc. Vua nói rõ cho
bà biết đầu đuôi: chắc con cá voi đã đến đón nàng đi. Bị buộc phải
hứa gả con cho nó, vua cứ luôn luôn buồn bã. Vua muốn an ủi bà,
bèn cho bà biết sẽ nhận được nhiều của cải. Hoàng hậu không thiết
và bảo đứa con còn lại duy nhất của bà quí hơn tất cả những kho
tàng trên thế gian.
Trong khi Hoàng tử cá voi đến chiếm công chúa, có thị vệ mang
đến lâu đài ba bao nặng. Vua mở ra thấy đầy châu ngọc to bằng hạt
đậu lớn. Vua lại giàu có, giàu hơn trước kia. Vua chuộc lại thành
thị, lâu đài, nhưng vua không trở lại cuộc sống xa hoa nữa. Vua
sống yên tĩnh, tiết kiệm. Mỗi khi nghĩ đến ba con gái yêu, không
biết sống giữa đám thú rừng ra sao, có thể bị chúng ăn thịt rồi, thì
vua mất hết niềm vui.
Không ai an ủi được hoàng hậu. Hạt lệ bà khóc con còn nhiều
hơn cả các hạt ngọc cá voi đã bỏ ra đổi lấy công chúa út. Về sau, bà
mới hơi nguôi nguôi. Cách đó một thời gian, bà lại thật vui vì bà lại
sinh được một cậu con trai xinh đẹp. Đứa con ra thật bất ngờ nên
gọi nó là Rainan, có nghĩa là đứa con kỳ diệu.
Đứa trẻ khỏe mạnh to lớn. Hoàng hậu thường kể cho nó nghe
việc ba chị bị ba con vật bắt giữ ở trong khu rừng thiêng. Khi cậu
mười sáu tuổi, cậu đòi vua cho áo giáp và gươm. Được những thứ đó
rồi, cậu muốn đi phiêu lưu, cậu từ biệt cha mẹ rồi lên đường.
Cậu đi thẳng đến khu rừng thiêng, chỉ nghĩ đến việc tìm các
chị. Lúc đầu, cậu đi lang thang trong rừng rậm, không gặp một
người nào hay một con vật nào. Sau ba ngày, cậu thấy ở trước một
cái hang một thiếu phụ ngồi chơi với một con gấu con. Một con gấu
khác rất bé ngồi trên đùi nàng. Rainan nghĩ bụng chắc là chị cả
mình. Cậu để ngựa lại, đi bộ đến và nói:
- Chị yêu dấu, em là em Rainan của chị, em đến thăm chị đây.
Công chúa nhìn cậu, thấy cậu giống bố y hệt, không nghi ngờ gì
lời cậu nói. Nàng sợ hãi bảo:
- Em yêu dấu ơi, trời ơi! Nếu em còn muốn sống thì em hãy
chạy đi cho nhanh. Nếu anh gấu, chồng chị về thấy em thì nó ăn
thịt em không chút động lòng đâu.
Nhưng Rainan bảo:
- Em không sợ, em nhất định ở lại với chị xem tình hình chị ra
sao.
Khi công chúa thấy không lay chuyển được ý chí của em, nàng
đưa em vào hang tối tăm, đúng là chỗ ở của gấu. Một bên có một
đống là và cỏ khô, Trên đó là nơi chồng cô và các con ngủ, bên kia là
chiếc giường đẹp lộng lẫy, bọc vải đỏ và nạm vàng của công chúa.
Nàng bảo em chui xuống gầm giường và tuồn cho em thức ăn.
Được một chốc, gấu về nhà nói: "Ta đánh hơi thấy mùi thịt
người" và định rúc đầu xuống gầm giường. Công chúa vội gọi:
- Cứ bình tĩnh, có ai mà lại vào đây được!
Mồm còn dính máu, gấu càu nhàu:
- Ta tìm thấy ở trong rừng một con ngựa và ăn thịt nó rồi. Tất
phải có người đi với ngựa, ta đánh hơi thấy rồi.
Rồi nó lại định chui vào gầm giường. Nàng liền đá vào bụng
gấu, nó lộn nhào một cái rồi đi ra ổ nằm, đút cẳng vào mồm mà
ngủ.
Cứ bảy ngày một lần, gấu lại hiện nguyên hình là một Hoàng
tử đẹp trai, hang của nó biến thành một tòa lâu đài lộng lẫy và thú
vật trong rừng biến thành thị vệ, cứ đến ngày ấy, chàng đến đón
công chúa. Những thiếu nữ xinh đẹp ra cửa lâu đài đón nàng, thật
là một buổi hội tưng bừng, nàng vui mừng say sưa ngủ. Nhưng khi
nàng tỉnh dậy thì thấy mình nằm trong hang gấu tối tăm, chồng đã
biến thành gấu càu nhàu ở chân mình. Chỉ có cái giường và tất cả
các thứ khác mà nàng đã sờ đến là vẫn nguyên không biến. Thành
thử nàng cứ sống sáu ngày trong đau khổ, đến ngày thứ bảy thì
nàng được an ủi. Nhưng vì nàng còn trẻ, tuy chỉ được có một ngày,
nàng cũng vui với cuộc sống. Nàng sinh được hai Hoàng tử sáu
ngày hình gấu, chỉ ngày thứ bảy mới là hình người. Mỗi lần như
thế nàng lại nhét đầy các thức ăn ngon lành, bánh trái hoa quả vào
giường rơm để ăn suốt tuần, con gấu vâng lời nàng và nàng muốn gì
nó làm nấy.
Khi Rainan tỉnh dậy thì thấy mình nằm trên giường lụa, người
hầu hạ chầu chực, mặc cho chàng quần áo sang trọng, vì hôm ấy
đúng là ngày thứ bảy. Chị cậu cùng hai Hoàng tử xinh đẹp và anh
rể gấu mừng rỡ bước vào vì thấy cậu đã đến. Thôi thì mọi thứ đều
đẹp lộng lẫy, suốt ngày vui vẻ. Nhưng đến tối công chúa bảo:
- Em yêu dấu, bây giờ thì em liệu đi ngay đi! Đến tang tảng
sáng, chồng chị sẽ lại biến ra gấu. Nếu sáng ngày, anh ấy vẫn thấy
em còn ở đây, anh ấy sẽ không cưỡng lại bản chất gấu mà sẽ ăn thịt
em đấy.
Hoàng tử gấu vừa tới đưa cho cậu vài sợi lông gấu mà dặn:
- Nếu gặp nạn thì em cứ sát lông vào người, anh sẽ đến cứu em
ngay.
Mọi người hôn nhau từ biệt. Rainan lên một cỗ xe thắng sau
ngựa đen, rồi đi. Đường đi vượt núi đèo, qua bãi hoang rừng rậm, qua
bụi qua bờ, không dừng không nghỉ. Mãi cho đến lúc trời hửng sáng
Rainan bỗng thấy mình trên mặt đất, ngựa xe biến mất. Đến khi trời
sáng tỏ, cậu thấy sáu con kiến lật đật đi tới, tha một vỏ hạt dẻ.
Rainan thấy mình vẫn ở trong rừng thiêng, cậu muốn đi tìm
các chị. Cậu lại đi lang thang một mình trong hiu quạnh ba ngày,
nhưng chẳng được việc gì. Đến ngày thứ tư, cậu nghe thấy một con
chim đại bàng bay rào rào rồi hạ xuống tổ. Rainan trốn trong bụi
rậm, đợi đến lúc nó bay đi. Bảy giờ sau nó lại bay lên không.
Rainan bèn nhoi ra, đến trước cây gọi:
- Chị yêu dấu, nếu chị ở trên đấy thì hãy lên tiếng cho em biết.
Em là Rainan, em của chị đây, em đến tìm chị đây.
Cậu nghe có tiếng vọng từ trên xuống:
- Nếu em là Rainan, em yêu của chị mà chị chưa từng nhìn
thấy, thì hãy lên đây với chị.
Rainan định trèo lên, nhưng thân cây to mà lại trơn quá. Cố
trèo ba lần đều uổng công. Bỗng một cái thang tết bằng dây lụa
được thả xuống. Cậu liền trèo lên tổ đại bàng. Tổ vương chắc như
một chiếc bao lơn trên cây thùy dương. Chị cậu ngồi dưới một chiếc
tán bằng lụa màu hồng. Trong lòng nàng ủ một quả trứng đại bàng,
ấp cho nở. Hai người mừng rỡ. Nhưng một lúc sau, công chúa nói:
- Em yêu dấu ạ, thôi em mau mau đi ngay. Nếu đại bàng chồng
chị thấy em thì anh ấy móc mắt ăn tim em mất.
Rainan đáp:
- Không, em cứ ở đây cho đến khi chồng chị biến thành người cơ.
- Việc ấy chỉ xảy ra trong sáu tuần nữa. Nhưng nếu em chịu
được thì em cứ trốn vào trong thân cây rỗng, ngày ngày chị sẽ thả
thức ăn xuống cho.
Rainan chui vào trong thân cây, công chúa ngày ngày thả thức
ăn xuống cho cậu. Hễ đại bàng bay đi thì cậu lại trèo lên với chị.
Sáu tuần sau đại bàng biến thành người. Rainan tỉnh dậy thấy
mình nằm trên giường cũng như ở nhà anh rể gấu, nhưng có phần
lộng lẫy hơn. Cậu sống bảy ngày rất vui vẻ ở nhà anh rể đại bàng.
Đến ngày thứ bảy, từ biệt nhau, đại bàng cho cậu ba chiếc lông và
dặn:
- Gặp cơn hoạn nạn, em hãy xát lông này vào người, anh sẽ lại
cứu.
Rồi người anh rể cho người hầu đi chỉ đường cho cậu. Tới sáng,
bỗng tất cả mọi người biến đâu hết cả, còn lại mình Rainan đứng
trên đỉnh núi cao, giữa cảnh hoang vu rùng rợn.
Rainan nhìn quanh, thấy ở xa mặt nước sáng như gương của
một cái hồ lớn, phản chiếu những ánh nắng đầu tiên sáng loáng.
Cậu nghĩ tới người chị thứ ba, chắc là chị ấy đấy. Cậu liền đi xuống,
len lỏi qua các bụi cây và phiến đá. Cậu đi như vậy ba ngày. Lắm
khi cậu mất hút cả hồ. Nhưng đến sáng ngày thứ tư thì cậu tới bên
hồ. Cậu đứng trên bờ kêu:
- Chị yêu dấu ơi, nếu chị có ở dưới đấy thì hãy lên tiếng, em là
Rainan của chị đây, em đến thăm chị đây.
Nhưng không có ai trả lời. Tất cả đều im lặng. Cậu bẻ vụn
bánh mì ném xuống nước bảo cá:
- Hỡi cá yêu dấu, hãy đi gặp chị ta, bảo là Rainan đứa trẻ kỳ
diệu đã đến đây và muốn đi tới chỗ chị ở.
Nhưng cá hương chấm đỏ đớp bánh mì mà không nghe thấy
cậu nói gì. Cậu thấy có chiếc thuyền liền cởi ngay áo giáp ra, chỉ
cầm trong tay một thanh kiếm trần, nhảy xuống thuyền chèo. Cậu
chèo mãi thì thấy một ống khói xây bằng thạch anh vọt lên trên
mặt nước tỏa ra một mùi thơm êm dịu. Rainan liền chèo thuyền tới
đó, chắc là chị mình sống ở dưới. Rồi cậu ngồi vào trong ống khói
mà tụt xuống. Công chúa bỗng thấy hai chân người vung vẩy thì sợ
quá. Một lát sau, nàng thấy cả thân người tụt xuống, cậu tự nhận
là em nàng. Nàng sung sướng vô cùng, nhưng cũng rất buồn rầu
bảo em:
- Cá voi đã biết tin là em định tìm chị và phàn nàn là nếu em
đến đúng lúc anh ấy là cá voi, thì anh ấy sẽ thèm ăn thịt em, không
nhịn được, anh ấy sẽ đập tan nhà bằng thạch anh của chị, chị cũng
sẽ đến bỏ mình trong ngọn sóng.
- Thế chị có thể dấu em cho qua hạn phù phép không?
- Ấy chết, không được, vì em có thấy là tường bằng pha lê trong
suốt không?
Nàng suy nghĩ mãi, chợt nghĩ đến buồng để củi. Nàng liền xếp
củi thật khéo - trông ngoài không biết được, dấu đứa trẻ kỳ diệu vào
trong. Một lát sau, cá voi đến. Công chúa run như lá liễu rung rung.
Cá bơi mấy vòng quanh tòa nhà pha lê. Khi nó thấy mảnh áo của
Rainan trong đống củi lòi ra, nó quẫy mạnh đuôi, thở phì phò. Nếu
nó mà nhìn thấy nhiều lần nữa, ắt là nó sẽ đập tan nhà ra. Ngày
nào, cá voi cũng đến lượn quanh. Mãi cho đến tháng thứ bảy, hết
phù phép. Rainan thấy mình ở trong một tòa lâu đài còn lộng lẫy
hơn cả lâu đài của đại bàng, ngay chính giữa có một hòn đảo đẹp đẽ.
Cậu sống cả một tháng trời rất là vui vẻ cùng chị và anh rể. Một
tháng sắp hết thì cá voi cho cậu ba cái vẩy mà dặn:
- Nếu em bị hoạn nạn, thì em cứ xát vẩy vào người, anh sẽ giúp
em.
Rồi cá voi lại để cậu chèo vào bờ. Đến nơi, cậu thấy bộ áo giáp
vẫn còn đó. Đứa trẻ kỳ diệu lại đi bảy ngày trong hoang vu. Trong
bảy đêm, cậu ngủ ngoài trời. Bỗng cậu thấy một tòa lâu đài có cánh
cổng bằng thép trên cửa có một cái khóa rất chắc. Phía trước có một
con bò rừng mắt nảy lửa đang canh gác lối vào. Rainan xông đến,
chém mạnh vào cổ nó, nhưng cổ nó bằng thép, gươm gãy tan ra
từng mảnh như thủy tinh. Cậu dùng giáo đâm, nhưng giáo gãy vụn
như là một sợi rơm. Bò rừng lấy sừng ghì cậu, tung cậu lên không,
khiến cậu mắc lủng lẳng trên cành cây. Trong cơn nguy khốn
Rainan chợt nhớ đến ba sợi lông gấu. Cậu xát lông vào bàn tay thì
lập tức có một con gấu lạch bạch chạy ra, đánh bò rừng và xé nó ra.
Nhưng từ trong bụng bò rừng có một con vịt trời vút lên không và
bay đi thật nhanh. Rainan liền xát vào người ba cái lông đại bàng,
lập tức có một con đại bàng reo mây bay đến đuổi theo con chim
đang bay thẳng về phía một cái hồ, sà xuống nó và xé nhỏ nó.
Nhưng Rainan thấy nó thả xuống nước một quả trứng vàng. Cậu
liền xát ba vẩy cá vào lòng bàn tay. Một con cá voi bơi lại ngay,
ngậm quả trứng và nhô lên bờ. Rainan cầm lấy, dùng đá đập vỡ thì
thấy trong đó có một chiếc chìa khóa nhỏ. Đó chính là chiếc chìa
khóa mở được chiếc cửa bằng thép.
Chìa khóa vừa đụng vào khóa thì cửa mở tung ra, Rainan bước
vào. Cậu đi đến đâu, then cửa tự động bật ra đến đấy. Cậu qua bảy
cửa, vào bảy phòng đẹp lộng lẫy, sáng trưng. Ở phòng cuối cùng, có
một thiếu nữ nằm ngủ trên giường. Nàng đẹp tuyệt vời khiến cậu
hoa mắt lên. Cậu định đánh thức nàng dậy, nhưng chỉ mất công vì
nàng ngủ say như chết. Chàng tức quá đập vào một chiếc bảng đen
ở bên giường. Thiếu nữ tỉnh dậy ngay, nhưng lại ngủ tiếp. Chàng
liền cầm lấy bảng, ném lên nền đá, bảng vỡ tan nghìn mảnh. Ngay
lúc đó, thiếu nữ mở mắt ra. Phép thuật tiêu tan. Thiếu nữ ấy là em
gái của ba anh rể Rainan. Vì nàng không chịu yêu một tên phù
thủy, nó đã bắt nàng ngủ say như chết và biến ba anh nàng thành
ba con vật. Phù phép sẽ còn hiệu lực nếu bảng đen vẫn y nguyên.
Rainan đưa nàng ra. Cậu vừa đến trước cửa thì các anh con rể
cưỡi ngựa từ ba phía đi lại cùng vợ con. Nàng vợ đại bàng đã ấp
xong trứng và ẵm lại một cô bé xinh đẹp. Mọi người đi tới gặp vua
và hoàng hậu đã già. Đứa trẻ kỳ diệu đưa ba chị về nhà, và cách đó
ít lâu, chú kết hôn với nàng thiếu nữ xinh đẹp kia.
Khắp nơi đều vui mừng, con mèo chạy về nhà, câu chuyện tôi
kể đến đây là hết.
Ông Vua trong câu chuyện rất giàu có, đúng không nào? Thế
nhưng tại sao ông Vua đó lại phải đem ba cô con gái cho Gấu, Đại
Bàng và Cá Voi? Phải chăng do ông Vua sống rất xa hoa. Qua câu
chuyện, ta thấy rằng: dù giàu có đến đâu nhưng sống xa hoa thì tất
cả của cải phải đội nón ra đi.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Con quỷ nhốt trong lọ

                         Ngày xưa có một bác tiều phu nghèo khổ. Bác luôn luôn phải
làm việc từ sáng sớm đến tối mịt. Mãi rồi bác cũng dành dụm được
ít tiền. Bác bảo con trai: "Con ơi, con là con một, bố muốn dành tiền
này để con học hành, bố đã kiếm số tiền này bằng mồ hôi nước mắt.
Con hãy học lấy một nghề lương thiện để sau này nuôi dưỡng bố khi
bố già yếu, chân tay cứng đờ, không làm ăn gì được nữa, phải ngồi ở
xó nhà".
Chàng thanh niên bèn xin vào một trường cấp cao và học hành
rất siêng năng. Các thầy dạy khen ngợi hết lời, và anh ta học ở đó
một thời gian dài. Sau đó, anh ta đã học qua nhiều trường khác –
Nhưng chưa học được hết thì số tiền ít ỏi mà bố dành dụm được đã
tiêu tán hết. Anh ta phải trở về nhà.
"Chà! Ông bố nói – Bố không còn gì để cho con nữa. Ngày nay,
đời sống đắt đỏ, bố không thể kiếm thêm được đồng nào ngoài tiền
mua bánh mì hàng ngày."
"Thưa bố," người con trả lời, "bố đừng bận tâm đến điều đó làm
gì. Con sẽ tự lo lấy."
Khi người bố vào rừng để chặt gỗ kiếm ít tiền, thì con bảo: "Bố
cho con đi cùng, con sẽ giúp bố".
- Đối với con, công việc này quá vất vả quá - bố trả lời - con
chưa quen loại công việc nặng nhọc này. Con không đảm đương nổi
đâu. Vả lại, bố chỉ có một cái rìu, không có tiền mua cái thứ hai"
- Thì bố hãy sang nhà bác hàng xóm, - người con ngắt lời cha -
bác sẽ cho bố mượn một cái rìu, cho đến khi nào con kiếm được đủ
tiền mua cái mới.
Người bố sang hàng xóm mượn một cái rìu. Sớm tờ mờ hôm
sau, hai bố con cùng vào rừng. Anh thanh niên làm việc giúp bố.
Anh ta cảm thấy tỉnh táo và sảng khoái. Khi mặt trời mọc tới đỉnh
đầu, người bố bảo:
- Chúng ta hãy nghỉ trưa và ăn một chút. Sau làm sẽ khỏe hơn.
Người con cầm lấy phần bánh và trả lời:
- Bố hãy nghỉ ngơi đi. Còn con, con chưa mệt. Con đi dạo trong
rừng một chốc để tìm tổ chim"
- Thằng bé huênh hoang, - người bố càu nhàu - sao mày lại đi
dạo, mày sẽ mệt và không giơ nổi cánh tay lên đâu. Hãy nghỉ ngơi ở
đây, ngồi đây với tao.
Mặc dầu người bố nói thế, người con vẫn đi vào rừng sâu. Anh
ta ăn bánh, tâm hồn vui vẻ, anh nhìn lên các cánh cây để tìm kiếm
một cây sồi to lớn, chắc sống đã mấy trăm năm, năm người nắm tay
nhau vây vòng quanh thân cây vẫn chưa kín. Anh ta dừng chân,
nhìn cây sồi khổng lồ và nghĩ: chắc chắn là có nhiều chim làm tổ ở
đây. Bất thình lình, anh nghe phảng phất có tiếng nói khẽ. Anh
lắng tai nghe thấy "Cho tôi ra khỏi đây! Cho tôi ra khỏi đây!"
Anh nhìn quanh, nhưng không thấy ai cả. Hình như tiếng nói ở
dưới đất đưa lên. Anh kêu lên:
- Anh ở đâu?
Tiếng nói trả lời:
- Tôi ở đây, ở dưới này, gần rễ cây sồi. Cho tôi ra với! Cho tôi ra
với!
Anh học trò sục sạo mặt đất, quanh gốc cây sồi, tìm kiếm ở các
rễ cây. Bất chợt anh nhìn thấy một cái lọ thủy tinh nằm sâu trong
một cái hốc nhỏ. Anh cầm lọ soi lên ánh sáng mặt trời. Anh nhìn thấy
một vật giống như con nhái, nhảy nhót trong lọ. "Cho tôi ra với! Cho
tôi ra với!" con vật không ngừng kêu. Không nghĩ gì đến nguy hiểm,
anh học trò mở nút lọ. Lập tức con quỉ chui ra khỏi cái lọ và lớn dần,
lớn dần, nhanh đến nỗi một thoáng đã trở thành một người khổng lồ
kinh khủng to, bằng nửa cái cây, đứng trước mặt anh.
- Mày có biết mày sẽ được trả công cứu tao thế nào không? -Con
quỉ hỏi anh với một giọng dễ sợ.
- Không - anh học trò trả lời và không cảm thấy sợ tý nào.
Con quỉ gầm lên:
- Tao sẽ đập bể đầu mày ra!
-"Sao mày không bảo tao lúc nãy, – anh thanh niên nói- mày ở
đâu tao sẽ để mày ở đó. Nhưng mày cũng không đập bể được đầu
tao đâu. Không phải mày quyết định được một mình!
- Không quyết định được một mình! Không quyết định được
một mình! - Con quỉ kêu lên - Mày tưởng thế thôi. Thế mày tưởng
là vì tao tốt mà người ta nhốt tao lâu thế à, đồ ngu! Không đâu! Đấy
là để trừng phạt tao! Tao là thần Macguya có uy lực. Tao phải bẻ
gãy cổ kẻ nào thả tao ra
- Này! - Anh học trò trả lời - đừng quá vội! Trước hết tao phải
biết có phải đúng là mày đã ở trong cái lọ nhỏ kia không và có phải
mày là con quỉ thật không. Mày lại chui được vào lọ thì tao mới tin.
Sau đó thì mày tha hồ muốn làm gì tao thì làm.
Giọng đầy kiêu ngạo, con quỉ nói:
- Cái đó dễ thôi! - Nó thu nhỏ mình lại, nhỏ bé như lúc trước,
nhỏ đến mức có thể lọt qua cái loa nhỏ của miệng lọ, nó lại chui vào
lọ. Nó vừa chui vào thì anh học trò vội đậy nút lọ lại và vứt cái lọ
xuống dưới rễ cây sồi, đúng chỗ đã tìm thấy nó. Thế là quỉ ta đã bị
vào tròng.
Anh con trai chuẩn bị đi về chỗ bố ngồi. Nhưng con quỉ kêu la,
van nài anh: "Hãy cho tôi ra! Hãy cho tôi ra!"
- Không! - Anh học trò trả lời. - Không có một lần thứ hai đâu!
Khi cuộc sống của ta bị đe dọa, không khi nào ta lại thả kẻ thù ta ra
một khi ta đã thoát nạn
- Nếu anh cho tôi được tự do - con quỉ lại nói -tôi sẽ cho anh
của cải để sống suốt đời
- Không! - anh con trai lại nói - Mày lại đánh lừa tao như lần
đầu thôi.
- Xin đừng bỏ lỡ dịp may, - con quỉ nói - tôi sẽ không hại anh
đâu, tôi sẽ thưởng cho anh tiền của mà!
Anh học trò nghĩ: “Ta cứ thử xem sao. Có thể nó sẽ giữ lời hứa".
Anh mở nút lọ, và cũng như lần trước, con quỉ ra khỏi cái lọ, lớn
dần và trở thành khổng lồ.
- Tôi sẽ trả công anh - quỉ nói, nó đưa cho anh một cái khăn
nhỏ giống như cuộn băng và nói: - Nếu anh sát đầu này vào một vết
thương thì vết thương sẽ lành. Nếu anh sát đầu kia vào thép hoặc
sắt thì sắt thép sẽ biến thành bạc.
- Để ta thử đã, - anh học trò nói. Anh đến gần một cái cây, dùng
rìu chém đứt vỏ cây ra rồi lấy một đầu khăn chà xát vào đó. Chỗ
đứt liền ngay. “Đúng là thế!" anh bảo con quỉ "Giờ thì chúng ta có
thể chia tay nhau". Con quỉ cảm ơn anh đã cứu thoát nó, anh học
trò thì cảm ơn con quỉ về món quà và anh đi gặp bố.
- Mày đi đâu về thế? Người bố hỏi. - Tại sao mày quên cả công
việc? Tao đã bảo mày không làm nên trò trống gì đâu"
- Xin bố hãy bình tĩnh, con sẽ làm bù.
- "Ôi, làm bù ư! - Người bố nổi giận - nói thế mà cũng nghe
được!
- Bố hãy nhìn này, con sẽ chặt cây này thật mạnh cho nó đổ.
Anh lấy khăn lau lưỡi rìu và chém thật lực một nhát. Nhưng
sắt đã biến thành bạc, lưỡi rìu bị mẻ.
Bố nhìn này! Cái rìu bố đưa cho tồi quá, nó đã bị quằn rồi!
Người bố sợ hãi nói: - Mày làm thế nào vậy! Sẽ phải đền cái rìu
thôi. Lấy gì mà đền bây giờ? Đấy là kết quả công việc mày làm đấy!
- Xin bố đừng cáu giận, người con nói, con sẽ chi tiền cái rìu.
- Thằng này láo thật, - người bố kêu lên, - mày lấy gì mà chi
nào? Ngoài số tiền tao cho ra, mày chẳng có gì cả. Mày chỉ có cái
đầu ngu xuẩn của thằng học trò chẳng biết gì về công việc thợ rừng
cả.
Một lúc sau, anh học trò nói:
- Bố ơi, con không làm được nữa. Bố con ta hãy nghỉ thôi!
- Sao lại thế, - người bố đáp. - Thế mày cho là tao mà lại chịu
khoanh tay như mày à? Tao phải làm chứ. Còn mày thì có thể về
được đấy.
- Thưa bố, con mới đến đây lần đầu tiên, con không tìm được
đường về một mình. Bố hãy về với con.
Người bố lúc đó đã nguôi giận, cùng con ra về. Ông bảo con:
- Hãy bán cái rìu hỏng đi. Để xem mày bán được bao nhiêu.
Còn thiếu bao nhiêu thì tao phải bù vào trả bác hàng xóm.
Người con mang lưỡi rìu đến cửa hàng vàng bạc ở đô thị. Ông
chủ cân lưỡi rìu rồi nói:
- Lưỡi rìu này giá bốn trăm đồng. Nhưng tôi không có đủ tiền
mặt.
- Có bao nhiêu thì ông đưa tôi, chỗ còn lại ông trả tôi sau. - Anh
thanh niên trả lời. Ông chủ hiệu vàng bạc đưa trả anh ba trăm
đồng và hẹn sẽ trả một trăm đồng nợ sau.
Anh học trò về nhà nói:
- Bố ơi, tiền đây. Bố hãy chạy sang bác hàng xóm hỏi xem bác
bắt đền cái rìu bao nhiêu tiền.
- Tao biết rồi, - người bố nói: một đồng và sáu xu!
- Vậy thì bố hãy trả bác ấy hai đồng một hào hai. Trả gấp đôi
thế là được quá rồi. Bố nhìn này, con có tiền thừa thãi. - Anh đưa
cho bố một trăm đồng và nói: - Bố sẽ không bao giờ thiếu tiền nữa!
Bố cứ sống thoải mái đi"
- Trời ơi! Người bố kêu lên: làm thế nào mà mày có nhiều tiền
thế?
Anh học trò đã kể cho bố nghe sự việc đã xảy ra làm sao, nhờ
gặp may mà anh được giàu có. Với số tiền còn lại, anh trở lại trường
và tiếp tục học. Anh dùng cái khăn chữa được mọi vết thương, và
trở thành thầy thuốc lừng danh thiên hạ.
Câu chuyện đã mượn thế lực quỷ thần để nói lên sự thông
minh và nhanh trí của con người. Con người luôn luôn chiến thắng
mọi thế lực cho dù đó là quỷ - một nhân vật huyền thoại có sức
mạnh siêu nhiên.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Vua trộm

                         Một hôm, hai vợ chồng bác nông dân già ngồi nghỉ trước túp
lều tồi tàn sau khi làm việc vất vả. Bỗng có một chiếc xe tứ mã lộng
lẫy đến đỗ ngay trước nhà. Một vị ăn mặc sang trọng bước từ trên
xe xuống. Bác giai đứng dậy, tiến đến gần vị quí tộc, hỏi ông cần gì.
Người lạ mặt bắt tay bác và nói: "Tôi chỉ ước ao có một điều là được
ăn bữa ăn nông thôn một lần xem sao. Hai bác hãy nấu cho tôi một
món khoai tây như bác thường nấu, tôi sẽ rất vui sướng được ăn
cùng hai bác".
Bác nông dân cười và nói: "Ngài hẳn là bá tước, hoàng thân hay
hầu tước. Những người lịch sự đôi khi hay thèm như vậy. Tôi xin
làm theo ý thích của ngài."
Bác gái vào bếp rửa và gọt khoai tây để làm món khoai theo
kiểu nông thôn. Trong khi bác gái làm bếp, bác giai bảo khách:
"Trong khi chờ ăn, mời ngài ra vườn cùng tôi. Tôi còn phải làm việc
ngoài đó". Bác đã đào hố để trồng cây.
Khách hỏi: "Bác không có con cái đỡ đần cho à?" "Không - bác
trả lời. Thật ra tôi cũng đã có một thằng con trai, bác nói tiếp,
nhưng nó đi chu du thiên hạ từ lâu rồi. Nó là một thằng hư hỏng,
láu cá và nhiều mưu mô. Nhưng nó lại không muốn học hành gì cả,
chỉ chuyên đi phá quấy. Cuối cùng, nó bỏ nhà đi, và từ bấy đến nay,
tôi không có tin gì về nó cả".
Bác già lấy một cây non đặt vào hố và cắm vào một cái cọc
chống bên cạnh. Rồi bác vun gốc; khi đã đắp được đất khá cao, bác
buộc cây trồng vào cái cọc chống bằng những cây rạ, buộc trên cao,
ở giữa và ở dưới.
"Bác ơi, - vị khách giàu sang nói, - sao bác không buộc cả cọc
chống cho cái cây còi cọc ở trong góc kia cho nó mọc thẳng. Nó mọc
gần sát mặt đất vì thân cây quăn queo".
Bác già cười và nói:
- Ông nói mà chẳng hiểu gì cả. Người ta biết ngay là ông chưa
từng làm vườn. Cái cây ấy đã già cỗi, còi cọc. Không ai có thể dựng
nó mọc thẳng lên được. Phải uốn cây từ lúc còn non.
- Cũng như thằng con bác ấy, - người lạ mặt nói, - khi nó còn
trẻ, nếu bác dạy dỗ nó tử tế thì nó đã không bỏ nhà ra đi, hẳn bây
giờ nó cũng còi cọc rồi.
- Cái đó thì chắc rồi, - bác già nói, - nó đi đã lâu hẳn là nó đã
thay đổi.
- Liệu bác có nhận được ra anh ta nếu anh ta đứng trước mặt
bác không?
- Nhận được mặt nó cũng khó đấy, Bác nông dân trả lời. Nhưng
nó có một dấu vết đặc biệt, một cái nốt ruồi ở vai, giống như hạt
đậu.
Khi bác nói tới đó, người lạ mặt cởi áo ngoài ra, trật vai ra và
chỉ nốt ruồi cho bác nông dân xem.
- Trời ơi! - Bác kêu lên, - đúng là con ta đây rồi. Và tình yêu con
tràn ngập trong lòng bác. - Nhưng, - bác nói thêm, - có thể nào anh
lại là con ta? Con ta trở thành một ông lớn sống trong giàu sang
phú quí! Làm thế nào con lại được như thế?
- Thưa cha! Người con trả lời: - Cây non đã không được buộc
vào cọc chống nên đã cong queo. Bây giờ cây già rồi, không mọc
thẳng lại được nữa.
- Sao con lại được như thế này ư?
- Con đã thành thằng ăn trộm. Nhưng cha đừng sợ. Con là Vua
trộm. Đối với con thì không có khóa, có then cài nào cả. Cái gì con
thích là con chiếm được. Cha đừng nghĩ con là thằng ăn trộm như
một tên trộm tầm thường. Không. Con chỉ lấy cái thừa mứa của nhà
giàu. Những người nghèo thì có thể yên tâm, con còn cho họ là đằng
khác, chứ không lấy của họ. Mà lấy trộm cái gì mà không vất vả,
không cần có mưu mẹo và khéo léo thì con không lấy.
- Ừ, ừ! Bác già nói, - nhưng dù sao, ta cũng không hài lòng về
con. Thằng ăn trộm vẫn là thằng ăn trộm. Ta nói cho con biết, rồi
cũng không ra gì đâu.
Bác dẫn con đến bác gái. Khi nhận ra con trai mình, bác gái
khóc vì vui sướng, nhưng khi bác giai cho biết con là Vua trộm thì
hai dòng nước mắt buồn tủi lại tràn đầy mắt bác. Cuối cùng bác nói:
"Dù nó có là thằng ăn trộm đi nữa thì nó vẫn là con tôi, tôi rất sung
sướng được gặp lại nó".
Mọi người cùng ngồi vào bàn ăn và tên ăn trộm lại được cùng
ăn với bố mẹ cái món ăn đạm bạc mà lâu nay nó không được ăn.
Sau đó người cha bảo: "Nếu ngài bá tước ở trong lâu đài kia mà biết
mày đi ăn trộm thì ông ấy đã không bế mày trong lòng ông mà ru
như hôm làm lễ rửa tội cho mày. Ông ấy sẽ lấy thừng treo cổ mày
lên cho mày đu đưa"
- Cha đừng lo, người con nói, ông ta sẽ không làm gì con đâu:
con thạo nghề của con. Ngay hôm nay, con sẽ đến gặp ông ta.
Đến chiều, vua trộm lên xe đi đến lâu đài. Bá tước tiếp đón anh
một cách kính nể, coi anh là một vị khách cao quý. Khi khách nói
cho chủ biết mình là ai thì ông tái mặt đi và ngồi lặng yên một lúc.
Rồi ông nói:
- Anh là con đỡ đầu của ta. Đáng lẽ phải xử theo pháp luật thì
tha thứ cho anh, xử sự với anh có độ lượng. Anh đã huênh hoang là
Vua trộm, vậy ta thử tài anh xem. Nếu anh thất bại thì sợi dây
thừng sẽ là vợ anh và tiếng quạ kêu sẽ thành nhạc cưới của anh.
- Thưa ngài, tên trộm nói ngài hãy thử thách tôi ba lần thật
khó tùy theo ý của ngài; nếu tôi không làm nổi, thì ngài muốn xử
tôi thế nào cũng được.
Ông bá tước suy nghĩ một lúc, rồi nói:
- Vậy thì, đầu tiên, anh hãy lấy trộm được con ngựa của ta
đang ở trong chuồng. Hai là anh phải lấy trộm được cái khăn trải
giường trong khi vợ chồng ta đang nằm ngủ mà chúng ta không
biết, đồng thời, anh phải rút được cái nhẫn cưới vợ ta đeo ở ngón
tay. Ba là anh phải bắt cóc được cha xứ và người giúp việc ông ngay
trong nhà thờ. Hãy để ý đến các điều đó nếu không thì toi mạng
đấy!
Vua trộm đến một đô thị gần nhất. Anh mua một bộ quần áo cũ
của một bà nông dân rồi mặc vào. Anh bôi mặt thành da màu nâu,
vẽ lên mặt nhiều nếp nhăn. Không ai có thể nhận ra anh. Anh đổ
đầy rượu vang Hung vào một cái thùng to; trong rượu anh trộn một
loại thuốc ngủ rất mạnh. Anh đặt thùng rượu trên một cái giá vác
trên lưng và đi chuệnh choạng, bước chậm chạp đến lâu đài bá tước.
Khi anh đến nơi, thì đêm đã khuya. Anh ngồi trên một hòn đá
ở sân, ho lụ khụ như một bà già đau ngực và xoa tay mạnh vào
nhau như sắp chết rét. Trước cửa chuồng ngựa, lính canh đang nằm
dài quanh đống lửa. Một người trong bọn họ trông thấy bà già, liền
gọi:
- Lại đây mẹ ơi, mẹ hãy lại đây mà sưởi với chúng con. Mẹ
không có nơi ngủ, thì mẹ hãy bạ đâu ngủ đấy vậy.
Bà già loạng choạng bước lại gần, nhờ họ nhấc xuống hộ cái giá
đỡ và thùng rượu, rồi ngồi bên họ.
- Mẹ có gì trong thùng thế? Một người lính hỏi
- Rượu ngon đấy, bà già trả lời, tôi buôn rượu mà. Các chú nói
tử tế và trả cho tôi ít tiền thì tôi vui lòng để các chú uống một cốc.
- Mẹ rót rượu cho con uống thử xem, một chú lính nói. Uống
xong, anh nói: - Nếu rượu ngon thật, con sẽ làm cốc nữa.
Bà rót rượu cho anh, những người lính khác cũng bắt chước
bạn.
- Này! Các bạn ơi, - một người trong bọn họ gọi những người ở
chuồng ngựa, - ở đây có bà mẹ mang rượu vang lâu năm, tuổi rượu
ngang tuổi bà mẹ. Hãy lại đây mà uống, các bạn sẽ ấm bụng hơn
sưởi lửa.
Bà già mang thùng rượu vào chuồng ngựa. Một người lính ngồi
trên con ngựa đã đóng yên của bá tước; một người khác cầm dây
cương, người thứ ba đang tết đuôi ngựa. Bà rót rượu cho mọi người
uống thỏa thích, cho tới khi thùng rượu cạn. Chẳng mấy chốc dây
cương tuột khỏi tay cầm và anh ta lăn ra đất mà ngáy. Người kia
buông đuôi ngựa ra, rồi cũng nằm dài ra đất mà rống to hơn. Người
ngồi trên ngựa thì vẫn ngồi yên nhưng cái đầu thì cúi rạp xuống
gần cổ ngựa; anh ta cũng ngủ và ngáy như kéo bễ lò rèn. Những
người lính ở bên ngoài đã ngủ từ lâu. Họ không động đậy, cứ như
người đá. Khi Vua trộm đã thấy mọi việc đều trôi chảy, anh đặt vào
tay người lính sợi thừng thế cho dây cương, anh đặt vào tay người
lính kia cái chổi rơm thế cho cái đuôi. Nhưng trường hợp thứ ba,
giải quyết người ngồi trên yên ngưa bằng cách nào đây? Anh không
muốn làm cho người lính ngã xuống đất, anh ta sẽ tỉnh dậy và có
thể kêu la lên. Vua trộm tìm được một kế hay: anh tháo sợi dây
buộc yên ngựa ra treo cái yên lên tường bằng những sợi thừng luồn
qua các cái vòng, rồi kéo chàng kỵ mã lên sát trần nhà. Sau đó anh
buộc thật chắc dây thừng vào một cái cột. Loáng một cái, anh đã
tháo được ngựa ra khỏi xích. Nhưng từ lâu đài người ta có thể nghe
thấy tiếng vó ngựa đập trên nền sân bằng đá. Anh bèn lấy giẻ bọc
móng ngựa lại, dắt ngựa cẩn thận ra khỏi chuồng và đi qua sân, rồi
anh nhảy lên ngựa và phi nước đại.
Khi trời sáng, Vua trộm phi ngựa đến lâu đại. Bá tước vừa ngủ
dậy và đứng nhìn qua cửa sổ. "Chào ngài bá tước! Vua trộm kêu to.
đây là con ngựa tôi đã lấy được ra khỏi chuồng ngựa; ngài hãy nhìn
kìa, lính của ngài đang ngủ ngon giấc! Nếu ngài ra chuồng ngựa thì
ngài sẽ thấy quân canh gác của ngài thoải mái như thế nào". Bá
tước không nhịn được cười. Ông nói: "Lần này, anh được cuộc.
Nhưng lần sau thì không dễ may mắn thế đâu. Ta báo cho anh biết
nếu ta bắt được anh đang ăn trộm, thì ta sẽ đối với anh như một tên
ăn trộm".
Buổi tối, khi đi ngủ, bà bá tước nắm chặt tay có đeo nhẫn. Bá
tước bảo vợ: "Tất cả các cửa ra vào đều đóng và cài then chặt. Tôi sẽ
thức để rình thằng ăn trộm. Nếu nó chui cửa sổ nào thì tôi sẽ bắn
hắn".
Vua trộm lẩn vào trong bóng tối, đến cái giá treo cổ, tháo gỡ
xuống một người phạm tội đáng thương treo ở đó; anh cõng cái xác
trên lưng đi đến lâu đài. Anh dựng một cái thang ở dưới cửa sổ
phòng ngủ của bá tước, công kênh xác chết trên vai và trèo lên. Khi
anh lên đã khá cao, đầu người chết đã hiện ra ở cửa sổ, thì bá tước
nằm trong giường vẫn rình, bắn một phát súng lục. Lập tức, tên
trộm để xác người bị treo cổ rơi xuống đất, và nó cũng nhảy xuống
khỏi thang chạy nấp vào một góc. Sáng trăng vằng vặc, nó trông
thấy rõ ràng bá tước trèo thang xuống, vác cái thây ra vườn... Ông
ta đào hố để chôn. Đúng dịp may đây rồi, tên trộm tự nhủ, nó chạy
nhanh ra khỏi nơi đang trốn, leo lên thang và vào phòng bà bá tước:
"Bà nó ơi, tên trộm bắt chước giọng ông bá tước để nói, thằng ăn
trộm đã chết rồi. Nhưng nó là con đỡ đầu của tôi, và nó là thằng bịp
bợm chứ không phải là một tên gian ác. Tôi không muốn đưa ra
công chúng để làm nhục nó. Tôi cũng thương bố mẹ nó nghèo khổ.
Tôi sẽ đem chôn nó ở ngoài vườn trước khi trời sáng để câu chuyện
khỏi vỡ lở. Bà đưa cho tôi cái khăn giải giường để tôi liệm nó rồi
lẳng lặng vùi nó như một con chó" - Bà bá tước đưa cho tên trộm cái
khăn trải giường " À mà này, bà ạ, tôi lại nổi máu hào hiệp đây, bà
đưa tôi cái nhẫn của bà. Thằng xấu số này đã liều mạng vì cái
nhẫn, thôi thì ta cho nó để nó mang xuống mồ". Bà bá tước không
muốn trái ý chồng; tuy miễn cưỡng, bà cũng rút nhẫn ra đưa. Tên
trộm bước ra với hai thứ đã lấy được, nó về nhà không bị cản trở
trước khi ông bá tước chôn xong ở trong vườn.
Sáng hôm sau, ông bá tước ngẩn tò te ra khi tên trộm mang lại
cho ông cái khăn và cái nhẫn!
- Mày là phù thủy à? Ông hỏi. Ai đã kéo mày ra khỏi nấm mồ,
là nơi chính tao đã chôn mày? Ai đã làm mày sống lại?
- Ông có chôn tôi đâu, thưa ông bá tước, tên trộm nói, đó là xác
một người phạm tội đáng thương ở giá treo cổ - Và nó kể lại tỉ mỉ nó
đã làm như thế nào. Ông bá tước phải công nhận nó đúng là một
tên trộm nhiều mưu mẹo.
- Nhưng chưa xong đâu! Ông bảo tên trộm. Mày còn việc cuối
cùng phải làm và nếu không làm được thì tất cả những gì mày đã
làm đều vô ích.
Đến đêm, nó lại nhà thờ làng, vác một cái bao tải to trên lưng,
cắp nách một cái gói, tay cầm một cái đèn. Trong bao tải có cua,
trong gói có những cây nến nhỏ. Tên trộm ngồi ở trong nghĩa địa sát
nhà thờ, lôi một con cua trong bao tải ra, gắn lên mai cua một cây
nến. Nó thắp nến lên rồi đặt con cua xuống đất cho nó bò đi. Nó lấy
con thứ hai, cũng làm như vậy, và tiếp tục đến khi trong bao hết
sạch cua. Lúc đó nó khoác một cái áo lông đen dài, giống cái áo của
cha xứ, và gắn vào cằm một bộ râu dài màu xám. Không ai nhận
được ra nó nữa. Nó vào trong nhà thờ, đứng lên trên bục giảng.
Đúng lúc ấy, chuông đồng hồ điểm nửa đêm. Khi tiếng chuông
cuối cùng đã âm vang, nó kêu gầm, giọng vang lên: "Hãy nghe đây,
hỡi các người tội lỗi. Ngày tận thế đã đến! Ngày phán xử cuối cùng
không còn xa! Hãy nghe đây! Hãy nghe đây! Ai muốn lên thiên
đường thì hãy chui vào cái bao này. Ta là thánh Pê-tơ-rut, làm
nhiệm vụ đóng và mở cửa Thiên đường. Hãy nhìn ra ngoài kia,
những xác chết đang chui ra khỏi mồ và đang gom hài cốt lại. Hãy
lại đây và chui vào bao này, ngày tận thế đã đến!"
Tiếng tên trộm vang khắp làng. Cha xứ và người giúp việc ở sát
nhà thờ, là người nghe thấy trước tiên. Khi họ trông thấy ánh sáng
trong nghĩa địa, họ hiểu là có chuyện bất thường xảy ra và họ chạy
đến nhà thờ. Họ nghe lời phán truyền của tên trộm một lúc. Người
giúp việc lấy khuỷu tay huých cha xứ và nói: "Dầu sao cũng không
nên bỏ lỡ cơ hội, cùng nhau lên Thiên đường không phải khó khăn
vất vả gì cả" - "Nhất định rồi, cha xứ trả lời: Tôi cũng nghĩ thế. Nếu
anh đồng ý thì ta cùng đi" - "Vâng, người giúp việc nói, nhưng người
đi trước phải là cha, con xin đi theo sau". Cha xứ tiến lên trước, trèo
lên bục giảng, ở đó tên trộm đang cầm bao. Cha chui vào bao trước,
theo sau là người giúp việc.
Ngay lập tức, Vua trộm cột chặt miệng bao và kéo bao từ bục
giảng xuống. Mái đầu của hai người ngớ ngẩn chạm phải bậc lên
xuống, tên trộm lại kêu to: "Chúng ta đang leo lên núi!" Cứ như vậy
nó lôi họ đi qua làng, khi qua một vũng nước thì nó lại kêu: "Bây
giờ chúng ta đang qua những đám mây sinh ra mưa đấy!" Và cuối
cùng, khi leo lên bậc thềm của lâu đài thì nó kêu: "Chúng ta đang
trèo các bậc thang lên Thiên đường; chúng ta sẽ vào tiền sảnh!" Khi
trèo lên cao, nó vứt cái bao vào chuồng chim bồ câu; chim đập cánh
thì nó nói: "Các ông có nghe thấy tiếng đập cánh của các thiên thần
đang vui đùa không?" Xong đâu đó, nó đóng cửa chuồng chim lại và
bỏ đi.
Sáng hôm sau, vua trộm đến gặp bá tước bảo đã làm xong việc
thứ ba là bắt cóc cha xứ và người giúp việc ngay trong nhà thờ -
"Thế mày để họ ở đâu", bá tước hỏi - "Họ đang ở một cái bao trên
chuồng chim bồ câu và họ tưởng là đang ở trên trời".
Bá tước đích thân lên xem và thấy tên trộm nói đúng. Khi ông
mở bao cho cho cha xứ và người giúp việc ra, ông nói: "Mày là Vua
trộm và mày đã thắng cuộc. Nhưng mày hãy đi khỏi xứ sở của ta!
Nếu người ta còn thấy mày luẩn quẩn ở đây thì chắc chắn mày sẽ
hết đời trên giá treo cổ". Vua trộm về từ biệt bố mẹ, rồi lại lên
đường đi chu du thiên hạ. Từ đấy, không ai có tin gì về anh ta nữa.
Các em có thấy tên trộm trong câu chuyện có thực sự tài giỏi
không? Nhưng tại sao ông Bá tước lại đuổi ông Vua trộm ra khỏi xứ
sở của mình? Bởi vì không ai ưa những tên trộm các em ạ. Nếu ông
Bá tước không đuổi tên trộm ra khỏi xứ sở của ông thì sẽ có ngày
của cải trong nhà ông sẽ lọt vào tay tên trộm mất thôi, đúng không
nào?


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Con rắn trắng

                         Ngày xưa có một ông vua nổi tiếng trong cả nước là khôn
ngoan. Không cái gì là vua không biết, dường như gió đưa lại cho
vua những tin tức bí mật nhất.
Vua có một thói quen kỳ lạ. Sau bữa ăn trưa, khi đã dọn bàn
xong, không còn ai nữa thì một người hầu tin cẩn bưng thêm vào
cho vua một bát. Bát đậy kín, ngay người hầu cũng không biết
trong có gì. Cũng chẳng ai được biết, vì vua đợi đến khi chỉ còn một
mình mới mở ra ăn. Cứ thế mãi tới một hôm, người hầu quá tò mò,
khi bưng bát không nhịn được nữa, đem bát về buồng mình. Anh ta
khóa cửa cẩn thận rồi mở nắp ra, thấy ở trong có một con rắn trắng.
Anh giữ mồm không được, muốn nếm thử bèn cắt một miếng bỏ
mồm. Anh vừa động lưỡi thì nghe thấy ở bên cửa sổ có tiếng nói rì
rào là lạ. Anh lại nghe, thì ra chim sẻ chuyện trò với nhau, kể cho
nhau nghe chúng đã thấy gì ở đồng ruộng và ở núi rừng. Thì ra
chính vì anh ta ăn rắn mà hiểu được tiếng nói loài vật.
Đúng ngày hôm đó, hoàng hậu mất chiếc nhẫn đẹp nhất và
nghi cho người hầu tin cẩn ấy ăn cắp vì anh ta vẫn được đi lại tự do
trong cung. Vua truyền gọi anh đến, mắng anh thậm tệ, hẹn cho
đến sáng hôm sau nếu không tìm ra được kẻ gian thì sẽ bị coi là thủ
phạm và đem xử tội. Anh kêu oan cũng vô ích, và bị đuổi ra ngoài
một cách tàn nhẫn. Anh lo sợ, xuống sân để nghĩ xem có cách nào
thoát không.
Ở đây có đàn vịt đang chụm nhau ngồi bên dòng nước vừa rỉa
lông vừa chuyện trò bù khú. Anh người hầu đứng nghe. Vịt kể lể với
nhau sáng nay lạch bạch đi đâu, tìm được món gì ngon. Một con cáu
kỉnh nói:
- Bụng tao anh ách khó chịu quá. Trong lúc vội vã, tao nuốt
phải cái nhẫn rơi ở dưới cửa sổ hoàng hậu.
Anh người hầu liền tóm ngay cổ con vịt ấy mang vào bếp bảo
nhà bếp:
- Bác thịt con này đi nhé, nuôi béo lắm rồi đây!
Nhà bếp nhận lời, nhắc vịt lên xem đã nặng chưa rồi nói:
- Chú mày tọng cho đầy, đợi ngày được quay cũng đã lâu rồi
đấy!
Bác ta chặt cổ, mổ vjt. Anh người hầu tìm thấy chiếc nhẫn của
hoàng hậu trong mề vịt nên việc minh oan cũng dễ dàng. Nhà vua
muốn đền bù cho anh, hỏi anh muốn gì và hứa phong cho anh chức
tước cao nhất triều đình.
Anh ta không nhận mặc dù còn trẻ và đẹp trai. Anh chán ngán
không thiết ở lại nữa. Anh chỉ xin một con ngựa và ít tiền ăn đường
đi chu du thiên hạ.
Một hôm, anh đi qua một cái ao thấy có ba con cá bị mắc vào
đám sậy, đang thoi thóp. Người ta nói là cá thì câm, vậy mà anh lại
nghe thấy chúng than vãn vì bị chết một cách bi thảm như thế. Anh
vốn nhân từ, nên xuống ngựa gỡ cá thả xuống nước. Cá vui mừng
quẫy, thò đầu lên kêu:
- Cám ơn ân nhân đã cứu chúng tôi, thế nào chúng tôi cũng xin
trả ơn này!
Anh lại cưỡi ngựa đi. Đi một lúc chợt nghe như có tiếng nói ở
trên cát, ngay dưới chân. Anh lắng tai nghe thấy kiến chúa than
vãn:
- Giá loài người đừng để những con vật thô lỗ đụng đến mình có
phải hay không. Cái con ngựa ngu ngốc này lại sắp lấy móng nặng
giẫm nát trăm họ của ta mà không chút động lòng đây.
Anh bén tránh sang bên đường. Kiến chúa kêu:
- Cám ơn ân nhân, chúng tôi sẽ trả ơn này.
Đi qua rừng, anh thấy bố quạ và mẹ quạ đậu bên tổ vứt lũ quạ
con xuống kêu:
- Cút đi, đồ chết đâm chết chém. Chúng tao không nuôi báo cô
chúng mày mãi được. Nhớn rồi, liệu đi mà kiếm ăn lấy!
Tội nghiệp lũ quạ con nằm xoài dưới đất, cố vỗ cánh kêu...
Chim con yếu ớt, bay còn chưa nổi, kiếm mồi làm sao được! Thôi thì
đành nằm đây chờ chết đói vậy.
Anh thanh niên xuống ngựa, rút gươm chém chết ngựa cho quạ
con ăn. Quạ con nhảy tới ăn no nê rồi gọi:
- Cảm ơn ân nhân, chúng tôi sẽ trả ơn này.
Anh đành đi bộ, đi mãi tới một thị trấn lớn. Trong phố có tiếng
ồn ào, nhân dân xô nhau nghe một người cưỡi ngựa đến báo là công
chúa kén chồng, ai muốn hỏi phải làm một việc rất khó, nếu chẳng
may không làm được thì toi mạng. Có nhiều người đã thử nhưng
đều bị chết. Anh thanh niên trông thấy công chúa đẹp lộng lẫy mê
mẩn cả người, quên hết nguy hiểm, đến tâu vua xin làm rể.
Người ta đưa anh ra bể, vứt trước mặt anh một chiếc nhẫn
vàng xuống nước. Nhà vua truyền cho anh mò chiếc nhẫn lên và
phán:
- Nếu nhà ngươi lên tay không thì sẽ lại bị ném xuống bể cho
đến khi chết đuối.
Mọi người đều tiếc cho đời chàng thanh niên đẹp trai. Chàng ở
lại bờ bể một mình nghĩ xem nên làm gì thì bỗng thấy có ba con cá
bơi lại. Chính là ba con cá mà anh đã cứu trước đây. Con bơi giữa
ngậm ở mồm một con hến và đặt hến lên bãi bể bên chân chàng.
Chàng cầm hến lên mở ra thì thấy ở trong có chiếc nhẫn vàng.
Chàng mừng lắm đem nhẫn dâng vua, tưởng nhà vua giữ lời hứa
thưởng cho mình. Nào ngờ công chúa vốn kiêu kỳ, thấy chàng
không phải môn đăng hộ đối, khinh rẻ chàng và bắt chàng phải làm
việc khó thứ hai. Nàng vào vườn, rắc mười bị kê xuống cỏ và bảo:
- Từ giờ đến sớm mai, trước khi mặt trời mọc, anh phải nhặt
cho kỳ hết kê, không được thiếu hạt nào.
Anh thanh niên ngồi trong vườn nghĩ mãi không biết làm như
thế nào. Anh rầu rĩ ngồi đợi sáng cho người ta dẫn ra pháp trường.
Ánh bình minh vừa chiếu vào vườn thì anh thấy mười bị kê đầy xếp
cạnh nhau, không thiếu hạt nào. Thì ra đêm ấy, kiến chúa đã cùng
hàng nghìn vạn kiến quân kéo đến. Các con vật biết ơn đã cần cù
nhặt kê bỏ bị. Công chúa đích thân xuống vườn xem. Nàng hết sức
ngạc nhiên thấy anh thanh niên đã làm được việc mình giao cho.
Nhưng nàng vẫn chưa hết kiêu kỳ, lại bảo:
- Tuy anh đã làm được hai việc, nhưng muốn lấy ta thì còn phải
dâng ta một quả táo trường sinh .
Anh không biết cây ở đâu, nhưng cũng đành lên đường nhắm
mắt đưa chân một cách tuyệt vọng. Anh đã đi qua cả nước, một tối
kia tới một khu rừng. Anh ngồi xuống gốc cây, định đánh một giấc.
Bỗng thấy trên cành cây có tiếng rào rào, rồi một quả táo vàng rơi
vào tay anh. Cùng lúc có ba con quạ bay xà xuống, đậu lên đầu gối
anh nói:
- Chúng tôi là ba quạ con mà ân nhân đã cứu khỏi chết đói.
Chúng tôi nay đã lớn, thấy ân nhân đi tìm quả táo trường sinh, vội
vượt bể đến tận cùng thế giới là nơi có cây trường sinh để hái quả
táo này.
Anh thanh niên mừng lắm, mang táo về dâng công chúa xinh
đẹp. Nàng không còn hoạnh họe gì được nữa, đem cắt đôi quả táo
cùng anh ăn. Lòng nàng bỗng tràn ngập tình yêu. Hai vợ chồng
hưởng hạnh phúc cho đến lúc đầu bạc răng long.
Các em có muốn mình nghe được tiếng loài vật như người hầu
ở trong truyện này không? Thật là kỳ diệu biết bao nếu điều đó là
hiện thực, đúng không nào? Qua câu chuyện này các em thấy yêu
quý và gần gũi các loài vật hơn.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Người đầy tớ trung thành

                         Xưa có một ông vua tuổi già lâm bệnh, nghĩ bụng: "Ta chết đến
nơi mất rồi". Vua cho đòi "bác Jôhannơt trung thành" tới. Bác là
người hầu được vua yêu nhất. Bác đã suốt đời tận tụy với vua. Vì
vậy mà vua gọi bác là "bác Jôhannơt trung thành".
Khi bác đến bên giường vua, vua phán:
- Jôhannơt trung thành ơi, ta biết ta sắp chết, ta chỉ băn khoăn
về con ta. Nó còn ít tuổi, dại dột, nếu nhà ngươi không hứa với ta sẽ
dạy cho nó biết những cái gì cần biết và khuyên nó như người cha
thứ hai, thì ta không yên tâm mà nhắm mắt.
Bác Jôhannơt đáp:
- Dù phải hy sinh đến tính mệnh, thần cũng không rời bỏ
hoàng tử. Thần xin thề một lòng một dạ phụng sự hoàng tử.
Vua nói:
- Thế thì ta chết cũng được yên tâm. Sau khi ta đã nhắm mắt
rồi, thì nhà ngươi dẫn cho nó xem toàn thể cung điện, tất cả các
buồng, các phòng, các hầm, cùng tất cả châu báu ở đó, trừ cài buồng
ở cuối hành lang dài có bức chân dung công chúa Mai vàng, vì ta sợ
nó đâm si tình mà ngất đi, rồi sẽ gặp nhiều tai ương. Nhà ngươi
phải bảo vệ nó.
Sau khi nghe "bác Jôhannơt trung thành" thề lần thứ hai, vua
yên lặng, đặt đầu xuống gối, rồi tắt thở.
Tang lễ đã làm xong, bác Jôhannơt trung thành cho vua mới
biết lời mình thề với vua cha bên giường bệnh và nói:
- Thần sẽ giữ lời thề và sẽ tận tụy với bệ hạ cũng như với vua
cha, dù phải hy sinh tính mệnh cũng cam.
Đoạn tang vua cha, bác Jôhannơt trung thành tâu với vua mới:
- Bây giờ là lúc thần phải cho bệ hạ biết kho tàng của người.
Thần xin đưa bệ hạ đưa bệ hạ đi thăm cung điện vua cha để lại.
Bác dẫn vua đi khắp cả cung điện, từ trên xuống dưới, xem tất
cả của báu, trừ cái buồng có bức chân dung nguy hiểm là bác không
mở. Bức chân dung để ở chỗ mà mới thoạt mở cửa là nom thấy
ngay, lộng lẫy trông tựa người thật, đẹp và có duyên nhất trần gian.
Vua thấy đến cửa đó bác Jôhannơt đi thẳng qua liền hỏi:
- Sao nhà ngươi không mở cửa ấy cho ta?
Jôhannơt đáp:
- Dạ bẩm trong đó có cái đáng ngại cho bệ hạ.
Nhà vua nói:
- Ta đã xem tất cả cung điện, giờ ta muốn biết trong buồng này
có gì.
Vua sắp định cố sức ẩn cửa, thì Jôhannơt trung thành vội níu
lại nói:
- Khi vua sắp chết, thần đã hứa không để cho bệ hạ thấy vật ở
trong buồng, nếu không sẽ vạ đến bệ hạ và lẫn cả thần.
Nhà vua đáp:
- Không được. Nếu không vào được thì ta cũng đến héo hon. Ta
sẽ ăn không ngon ngủ không yên, nếu không được thấy cho tận
mắt. Ta cứ đứng lì đây cho đến khi nào ngươi chịu mở cửa ra.
Biết không ngăn được vua, Jôhannơt trung thành buồn bã thở
dài, tìm chìa khóa buồng trong chùm chìa khóa to của bác. Bác mở
cửa buồng vào trước, định che bức chân dung không cho vua trông
thấy, nhưng không được vì vua đứng kiễng lên nhìn qua vai bác.
Khi trông thấy người thiếu nữ đẹp lộng lẫy, đeo toàn vàng ngọc,
vua lăn ra, bất tỉnh nhân sự. Bác Jôhannơt trung thành nâng nhà
vua dậy, mang lên giường và lo lắng nghĩ: "Trời ơi! Tai họa đã xảy
đến rồi. Biết làm sao bây giờ?"
Bác đổ rượu vang cho vua. Vua tỉnh lại hỏi:
- Cô gái đẹp trong tranh là ai?
Jôhannơt trung thành đáp:
- Dạ thưa, đó là nàng công chúa Mai vàng.
Vua nói:
- Ta yêu nàng say đắm. Dẫu tất cả lá cây đều biến ra lưỡi thì
cũng không thể nói hết được lòng ta. Ta phải chiếm được nàng thì
ta mới sống được. Ngươi là Jôhannơt trung thành của ta thì ngươi
phải giúp ta làm việc này.
Người hấu trung thành suy nghĩ mãi, vì riêng việc tìm đến gặp
mặt Công chúa cũng đã khó. Mãi sau bác mới nghĩ ra một mẹo, liền
tâu vua:
- Chung quanh Công chúa, cái gì cũng bằng vàng, từ bàn ghế
đến bát đĩa cốc tách và các đồ gia dụng khác. Bệ hạ có cả thảy năm
tấn vàng. Bệ hạ nên giao cho thợ kim hoàn một tấn để làm đủ các
vật dụng cùng các loại chim, thú rừng, các con vật kỳ lạ. Công chúa
sẽ thích lắm. Ta sẽ đem những của đó đến gặp nàng xem sao.
Vua sai đòi tất cả các thợ kim hoàn trong nước đến bắt làm
đêm ngày cho xong những vật đẹp lộng lẫy. Khi đã đem các thứ đó
xuống thuyền, "bác Jôhannơt trung thành" ăn mặc giả nhà buôn,
vua cũng trá hình như vậy. Vua tôi vượt bể đi đến thành phố của
Công chúa Mai vàng.
"Jôhannơt trung thành" lên bến một mình, dặn vua ở lại chờ.
Bác nói:
- May ra thì thần đem được công chúa về đây. Vậy bệ hạ nên
cho dọn dẹp trang trí con thuyền, bày đồ vàng ra.
Sau đó, bác dắt vào lưng đủ mọi thứ nữ trang, rồi lên bờ đi đến
cung điện vua cha nàng.
Khi vào trong sân, bác thấy một cô gái đẹp ở gần giếng cầm hai
chiếc thùng vàng múc nước. Lúc quẩy nước lóng lánh đi, cô ngoảnh
lại, trông thấy khách lạ, liền hỏi bác là ai.
Bác cởi thắt lưng ra cho cô xem mà nói:
- Tôi là lái buôn, cô ạ.
Cô reo lên:
- Lắm đồ tư trang đẹp thật!
Cô đặt thùng nước xuống, xem từng thứ rồi nói:
- Công chúa thích đồ vàng lắm. Ông cho Công chúa xem, Công
chúa sẽ mua tất cả đấy.
Cô gánh nước đó là thị tì của Công chúa. Cô dẫn bác đến ra
mắt công chúa.
Công chúa thấy đồ nữ trang thích quá, nói:
- Đẹp lắm, ta muốn mua ngay tất cả.
Nhưng "bác Jôhannơt trung thành" bảo nàng:
- Tôi chỉ là đầy tớ của một phú thương. Những đồ này chỉ là
một phần không đáng kể trong số hàng của chủ tôi để ở trên
thuyền. Đồ vàng đó đẹp và quí giá vô cùng.
Nàng muốn bảo đem hàng đến cho nàng xem, nhưng bác
Jôhannơt nói:
- Hàng nhiều quá, phải nhiều ngày mới tải được hết đến đây.
Trong cung điện này e không có đủ phòng mà chứa.
Nàng càng thêm tò mò ao ước, nói:
- Thế bác đưa ta đến xem những vật quí của chủ để dưới
thuyền vậy.
Jôhannơt hớn hở đưa nàng về thuyền. Thấy nàng đẹp hơn cả
trong tranh, vua sướng ngây ngất. Nàng xuống thuyền, vua đón
vào.
Jôhannơt đứng đằng sau bảo người lái cho nhổ neo:
- Căng hết buồm ra cho thuyền lướt nhanh như chim bay.
Trong khi đó, ở trong thuyền, vua cho Công chúa xem bát đũa,
cốc chén, chim, thú rừng và những con vật kỳ lạ bằng vàng.
Nàng mải mê xem, không để ý là thuyền đã nhổ neo đi được vài
giờ rồi.
Xem xong, nàng cảm ơn người phú thương giả để về cung. Ra
tới mạn thuyền, nàng mới biết thuyền đã ra khơi, cánh buồm đương
căng thẳng. Nàng sợ hãi kêu lên:
- Thôi ta bị lừa rồi. Ta bị mắc vào tay một tên lái buôn, thà chết
cho rảnh.
Vua cầm tay nàng bảo:
- Tôi không phải là lái buôn, tôi là vua một nước, chỉ vì quá
yêu nàng nên phải dùng mưu bắt nàng. Lần đầu thoạt tiên trông
thấy chân dung nàng, tôi đã ngã xuống ngất đi.
Công chúa Mai vàng nghe nói yên tâm, cảm kích thuận lấy
vua.
Thuyền đang lênh đênh ngoài khơi thì một hôm, bác Jôhannơt
ngồi đằng mũi chơi đàn bỗng thấy ba con quạ bay đến trước mặt
bác. Bác bèn lắng tai nghe tiếng chúng vì bác hiểu tiếng chúng.
Một con nói:
- Úi chà! Vua bắt Công chúa Mai vàng đem đi về nhà rồi!
Con thứ hai nói:
- Nhưng vua chưa chiếm được Công chúa đâu.
Con thứ ba nói:
- Chẳng chiếm được là gì! Công chúa ngồi bên vua ở trong
thuyền ấy.
Con thứ nhất lại nói:
- Ăn thua gì! Khi vua lên bộ, một con ngựa màu hung sẽ nhảy
lại. Vua mà lên ngựa thì ngựa sẽ bay lên chín tầng mây, vua không
còn bao giờ thấy mặt vợ trẻ ấy nữa.
Con thứ hai nói:
- Có cách nào thoát nạn không?
Con thứ nhất đáp:
- Có chứ! Nếu có một người khác nhảy tót lên ngựa, rút súng ở
yên ra bắn cho nó chết thì cứu được vua. Nhưng ai biết được việc
đó? Người nào biết mà nói với vua thì sẽ hóa đá từ chân đến đầu
gối.
Con thứ ba nói:
- Tao còn biết thêm là dù con ngựa có bị giết chăng nữa vua
cũng không lấy nổi Công chúa đâu! Khi hai người về đến cung điện,
thì thấy một cái đĩa vàng trong đặt một cái áo lót của chú rể trông
như dệt bằng vàng bằng bạc nhưng kỳ thực chỉ là nhựa thông và
diêm sinh. Nếu vua mặc áo lót đó thì sẽ bị thiêu đến xương tuỷ.
Con thứ nhất hỏi:
- Không có cách nào tránh được nạn ấy à?
Con thứ hai đáp:
- Có, miễn là có người đeo bao tay, cầm áo lót ném vào lửa thì
vua thoát nạn, Nhưng cũng chẳng ăn thua gì! Người nào biết mà
nói ra cho vua biết thì sẽ hóa đá từ đầu gối đến quả tim.
Con thứ ba nói:
- Tao còn biết thêm là áo lót có cháy đi nữa, vua cũng vẫn chưa
lấy được vợ, vì sau lễ cưới, nếu cô dâu khiêu vũ thì người bỗng sẽ
tái đi, rồi chết ngất. Nếu không có người nâng nàng dậy, mút ngực
bên phải ra ba giọt máu, rồi nhổ ngay đi, thì nàng bị chết mất.
Nhưng ai biết mà nói ra cho vua biết, thì sẽ hóa đá từ đầu đến
chân.
Ba con quạ nói chuyện xong lại bay đi. Từ khi được biết hết sự
việc, bác Jôhannơt buồn rầu, không nói năng gì cả. Không nói thì
hại đến chúa mà cho chúa biết thì thiệt đến thân, Nhưng sau bác
nghĩ bụng: "Ta nhất định cứu chúa, dù phải hy sinh tính mệnh
cũng cam".
Thuyền cặp bến, sự việc xảy ra đúng như lời quạ nói. Một con
ngựa hung rất đẹp nhảy tới.
Vua nói:
- Được để ta cưỡi nó về cung.
Vua chưa kịp lên ngựa thì bác Jôhannơt đã nhảy lên, rồi rút
súng ở yên ra bắn chết con ngựa.
Những tên hầu khác vốn ghen ghét bác Jôhannơt nhao nhao
lên:
- Nó xược quá! Dám giết con ngựa đẹp đem đến để vua cưỡi về
cung.
Nhưng vua bảo chúng:
- Chúng bay im đi, "Jôhannơt trung thành" của ta làm như thế
chắc là có lý do chính đáng.
Vua và Công chúa về cung thì thấy trên một cái đĩa bằng vàng
có một chiếc áo lót chú rể trông tựa như là dệt bằng vàng bằng bạc.
Vua định lấy áo mặc thì bác Jôhannơt đẩy vua ra, lấy áo ném vào
lửa cho cháy.
Những tên hầu khác lại nhao nhao lên:
- Đấy, nó lại đốt cả cái áo lót cưới của vua.
Nhưng vua lại quở rằng:
- Jôhannơt hết sức trung thành của ta làm thế chắc có lý do,
chúng bay biết đâu.
Hôn lễ đã cử hành. Cuộc khiêu vũ bắt đầu, Công chúa sắp
nhảy. Bác Jôhannơt luôn luôn theo dõi nàng, bỗng thấy nàng tái đi
ngã lăn ra bất tỉnh. Bác vội chạy đến nâng nàng dậy và đem về
buồng đặt nàng lên giường. Rồi bác quì xuống mút ở ngực bên phải
của nàng ba giọt máu, nhổ đi. Công chúa hồi lại. Vua thấy vậy
không hiểu tại sao bác lại hành động như thế, nổi giận thét: "Giam
nó vào ngục".
Sáng hôm sau, bác bị kết án tử hình rồi bị đưa lên giá treo cổ.
Bác trèo hết bậc thang rồi nói:
- Trước khi bị xử tử, tội nhân nào cũng được phép nói, vậy thần
có được phép nói không?
- Được, ta cho phép.
- Thần đã bị xử oan, thần đã luôn luôn tận tụy với bệ hạ.
Rồi bác kể lại cho vua biết bác đã nghe thấy ở trên mặt bể ba
con quạ nói với nhau những gì và tại sao bác đã phải làm những
việc vừa qua để cứa chúa.
Vua bèn kêu lên:
- Tội nghiệp quá! Hãy tha cho Jôhannơt trung thành của trẫm.
Cho bác xuống.
Nhưng bác Jôhannơt vừa nói dứt lời thì ngã lăn ra hóa đá rồi.
Vua và hoàng hậu thấy thế buồn lắm.
Vua nói:
- Jôhannơt đã tận tụy với ta mà ta đã nỡ xử như thế ư!
Rồi vua sai khiêng tượng Jôhannơt vào buồng ngủ, đặt bên
giường mình. Mỗi lần trông thấy tượng, vua lại khóc mà nói:
- Jôhannơt trung thành ơi, ước gì ta làm cho ngươi sống lại
được.
Cách đó ít lâu, hoàng hậu đẻ sinh đôi. Hai đứa con trai lớn lên
là nguồn vui của mẹ. Một hôm, hoàng hậu đi lễ nhà thờ, hai con ở
nhà chơi gần bố. Bố lại ngắm bức tượng thở dài và nói:
- Jôhannơt trung thành của ta ơi, ước gì ngươi sống lại.
Bức tượng bỗng lên tiếng nói:
- Bệ hạ có thể làm trẫm sống lại, nếu bệ hạ chịu hy sinh cái gì
bệ hạ yêu quí nhất.
Vua nói:
- Trẫm sẽ vì ngươi mà hy sinh tất cả cái gì trẫm có ở trần gian.
Tượng đá nói:
- Nếu bệ hạ chịu tự tay chặt đầu hai Hoàng tử lấy máu bôi vào
thần thì thần sẽ sống lại.
Nghe nói, vua rùng mình, không dám tự tay giết con. Nhưng
vua lại nhớ đến ơn người bầy tôi trung thành đã vì mình mà chết,
bèn rút gươm chặt đầu hai con lấy máu bôi vào tượng thì quả là
tượng sống lại. Bác Jôhannơt lại khỏe mạnh tươi tắn đừng trước
vua. Bác tâu với vua:
- Bệ hạ ăn ở có thủy có chung, bệ hạ được hưởng phúc.
Rồi bác cầm lấy hai cái đầu lắp vào thân hai đứa bé, bôi máu
vào chỗ chặt. Hai đứa bé sống lại, chơi đùa chạy nhảy như trước.
Vua mừng lắm. Khi thấy hoàng hậu về, vua giấu bác Jôhannơt
và hai con vào một cái tủ lớn.
Hoàng hậu bước vào nói:
- Lúc nào thiếp cũng nghĩ đến "bác Jôhannơt trung thành" đã
vì chúng ta mà chịu nạn.
Vua bảo:
- Nàng có thể làm cho bác sống lại, nhưng phải chịu hy sinh hai
đứa con mình.
Hoàng hậu tái mặt đi, lòng se lại, nhưng rồi đáp:
- Bác Jôhannơt đã trung thành đối với mình, mình chịu ơn bác
nhiều lắm.
Vua thấy vợ mình cũng chung một ý nghĩ như mình, thích lắm,
đi mở tủ cho bác Jôhannơt và hai con ra và nói:
- Lạy Chúa, bác đã được giải thoát và hai con nhỏ của mình
sống lại.
Rồi vua kể cho hoàng hậu nghe sự việc vừa qua.
Từ đó, vua, hoàng hậu, hai Hoàng tử và bác Jôhannơt cùng vui
hưởng hạnh phúc suốt đời.
Câu chuyện ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của những con người
biết sống có tình, có nghĩa. Con người luôn vượt qua được những
khó khăn, cản trở nếu có tấm lòng cao thượng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét