Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015

Truyện cổ Grim phần 1

Nàng công chúa chăn ngỗng

                         Ngày xưa có một bà hoàng hậu tuổi đã cao. Đức vua chết đã
lâu. Bà có một cô con gái rất xinh đẹp. Khi lớn lên, nàng được hứa
hôn với một chàng Hoàng tử con vua một nước xa xôi. Đến ngày tổ
chức lễ cưới, nàng công chúa sửa soạn đi nước xa lạ. Mẹ nàng gói
ghém cho nàng những vật quí giá: đồ trang sức, vàng, bạc, cốc, châu
ngọc, tóm lại là tất cả những gì xứng đáng làm của hồi môn cho một
công chúa, vì mẹ nàng rất mực thương nàng.
Mẹ nàng gửi gắm
nàng cho một thị nữ có nhiệm vụ dẫn nàng đi đến chỗ ở người
chồng chưa cưới. Mỗi người cưỡi một con ngựa. Ngựa công chúa cưỡi
tên là Phalađa, biết nói. Đến lúc chia tay, bà hoàng vào trong phòng
ngủ, lấy một con dao nhỏ trích ngón tay, để chảy ba giọt máu. Bà
cho máu thấm xuống một cái khăn trắng nhỏ, đưa cho cô gái và
dặn: "Con thân yêu, con hãy giữ gìn cẩn thận cái khăn này, nó sẽ có
ích cho con trên đường đi".
Hai mẹ con buồn bã từ biệt nhau. Công chúa áp cái khăn lên
ngực, nhảy lên yên ngựa để đi đến nơi ở của người yêu. Sau khi đã
đi một tiếng, cô cảm thấy khát khô họng, bèn bảo thị nữ: "Em hãy
xuống ngựa, lấy cốc của ta múc nước suối kia và mang lại đây cho
ta, ta khát nước lắm" - "Nếu cô khát, thị nữ trả lời, thì hãy tự nhảy
xuống, rồi vươn người ra trên mặt nước mà uống. Tôi không phải là
đầy tớ của cô".
Công chúa khát lắm, bèn xuống ngựa, cúi xuống dòng nước
suối để uống nước. Nàng không dám uống nước bằng cốc vàng. "Trời
ơi!" nàng kêu to. Ba giọt máu bảo cô: "Nếu mẹ cô biết sự tình thế
này, thì hẳn tim bà sẽ tan nát trong ngực". Nhưng công chúa là
người can đảm. Nàng không nói gì và lại nhảy lên ngựa. Ngựa phi
được vài dặm. Trời thì nóng nực, chẳng mấy chốc nàng lại khát
nước. Tới một con sông, nàng bảo thị nữ: "Em hãy xuống ngựa và
cho ta uống nước bằng cái cốc vàng". Cô đã quên đứt những lời độc
ác của thị nữ. Nhưng thị nữ lại trả lời ngạo mạn hơn: "Nếu cô khát
thì tự đi uống nước một mình, tôi không phải là đầy tớ của cô".
Công chúa khát quá, nhảy xuống ngựa, cúi xuống dòng nước chảy
xiết, khóc và kêu lên: "Trời ơi!" Ba giọt máu liền đáp lại: "Nếu mẹ cô
biết sự tình thế này, thì hẳn tim bà tan nát trong ngực". Trong khi
cô cúi xuống để uống thì cái khăn có thấm ba giọt máu, tuột khỏi
ngực cô và trôi theo dòng nước mà cô không hay biết, vì lúc đó cô rất
sợ hãi. Thị nữ thì lại trông thấy hết và nó rất vui mừng từ giờ trở đi
công chúa sẽ bị nó trả thù. Từ lúc đánh mất ba giọt máu, công chúa
trở nên yếu đuối, không đủ sức tự vệ nữa. Khi nàng định trèo lên
con ngựa Phalađa thì thị nữ bảo: "Tôi sẽ cưỡi con Phalađa, còn cô,
cô hãy cưỡi con ngựa tồi của tôi". Công chúa đành làm như vậy.
Tiếp đó thị nữ ra lệnh, lời lẽ gay gắt, bắt nàng phải cởi quần áo
hoàng cung ra và mặc quần áo của nó vào.
Cô lại phải thề với trời đất là khi đến cung điện sẽ không nói lộ
ra. Nếu cô không chịu thề thì nó sẽ giết cô tại chỗ. Nhưng con
Phalađa đã quan sát tất cả và ghi nhớ tất cả.
Thị nữ cưỡi con Phalađa, còn công chúa thì cưỡi con ngựa tồi.
Nó lại tiếp tục đi, cuối cùng đến lâu đài nhà vua. Ở đấy, mọi người
rất vui mừng khi họ tới, và Hoàng tử vội chạy tới tận nơi đón họ, đỡ
thị nữ xuống ngựa, vì tưởng rằng đó là vợ chưa cưới của mình. Thị
nữ đi lên bậc thềm lâu đài, còn nàng công chúa thì phải đứng lại
ngoài sân. Vua cha nhìn ra, qua cửa sổ thấy nàng duyên dáng và
tuyệt đẹp. Người vào trong cung hỏi cô gái được coi là vợ chưa cưới
của Hoàng tử xem cô gái đứng ngoài sân là ai. "Tâu vua cha, con đã
gặp cô gái đó trên đường đi và con đưa cô ta đi cùng để đỡ lẻ loi một
mình. Xin vua cha cho cô ta làm việc để cô ta khỏi phải vô công rồi
nghề".
Nhưng vua cha không có việc gì giao cho cô làm cả. Người bảo:
"Ở ngoài kia, ta có một anh chàng chăn ngỗng, hãy để cô ta giúp
việc vậy. Chàng trai tên là Cuốc. Vợ chưa cưới của Hoàng tử phải
giúp anh chăn ngỗng.
Ít lâu sau, vợ chưa cưới giả tâu với hoàng tử: "Chàng thân yêu
ơi, em muốn một điều, chàng hãy làm vui lòng em". Hoàng tử nói:
"Được thôi!"
- Chàng hãy cho gọi người thợ lột da đến đập chết con ngựa em
đang cưỡi đến đây, vì trong khi đi đường nó làm em bực tức".
Thật ra thì nó sợ con ngựa kể lại cách nó đã đối xử với công
chúa. Đến lúc con ngựa trung thành Phalađa phải chết thì công
chúa được tin. Nàng hứa với người thợ lột da là sẽ bí mật biếu anh
một đồng tiền bằng bạc nếu anh giúp nàng một việc nhỏ. Trong đô
thị có một cái cổng to rất tối, hàng ngày, sớm tối nàng phải dẫn đàn
ngỗng đi qua. Nàng xin người thợ lột da hãy đóng đanh treo đầu
con Phalađa vào cái cổng ấy để nàng có thể luôn luôn trông thấy nó.
Người thợ lột da hứa sẽ làm và bác đóng chặt đanh treo đầu ngựa
vào dưới cái cổng tối om.
Sáng sớm, khi cùng Cuốc đi qua cổng, cô bảo cái đầu:
"Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!"
Cái đầu trả lời:
"Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết
nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Lặng lẽ, cô đi khỏi đô thị, dẫn đàn ngỗng ra cánh đồng. Đến
đồng cỏ, cô ngồi xuống và rũ tóc ra. Tóc cô óng ánh như vàng
nguyên chất và Cuốc rất thích nhìn mớ tóc ấy lóe sáng. Anh muốn
nhổ vài sợi tóc. Công chúa bèn nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ. Hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Tức thì gió thổi mạnh cuốn đi cái mũ của Cuốc. Anh ta chạy
theo ngay. Khi anh trở về thì công chúa đã chải đầu xong và anh
không nhổ được sợi tóc nào. Anh rất bực và không nói năng gì với cô
nữa. Họ lại tiếp tục chăn ngỗng đến chiều, rồi cùng về nhà.
Sáng sớm hôm sau, khi lùa ngỗng qua cổng, cô gái nói:
"Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!"
Cái đầu trả lời:
"Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết
nông nỗi này, tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Đi ra khỏi đô thị, cô lại ngồi trên đồng cỏ và lại rũ tóc ra chải.
Cuốc muốn nắm lấy mớ tóc. Cô vội vàng nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Gió nổi lên, cuốn cái mũ đi. Cuốc phải chạy theo. Khi anh trở
về thì công chúa đã chải đầu xong từ lâu và anh không nắm được
mớ tóc ấy. Và rồi hai người lại cùng chăn ngỗng đến chiều.
Nhưng chiều hôm ấy, về tới nhà, Cuốc đến gặp vua cha và tâu:
"Kính thưa hoàng thượng, con không thể chăn ngỗng cùng cô gái
này nữa" - "Tại sao vậy?", vua hỏi. "Suốt ngày, cô ta làm con bực
mình!" - Vua cha bảo anh kể lại sự việc đã xảy ra. Cuốc nói: "Buổi
sáng, chúng con dẫn đàn ngỗng qua cái cổng tối om, ở đấy có một
cái đầu ngựa treo trên tường. Cô ta nói với nó: "Ôi, Phalađa, mày bị
treo ở đây ư!" Cái đầu trả lời: "Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng
qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Và Cuốc kể các sự việc đã xảy ra ở cánh đồng chăn ngỗng và tại
sao anh ta lại phải chạy theo cái mũ.
Vua cha dặn anh ta ngày hôm sau cứ đi chăn ngỗng như
thường lệ. Sáng sớm ngài thân chinh đến dưới cái cổng tối om và
nghe được những câu cô gái nói với cái đầu Phalađa. Ông theo ra
cánh đồng và nấp vào một bụi cây. Chính mắt ngài trông thấy anh
thanh niên và cô gái lùa ngỗng thế nào và sau một lúc, cô gái ngồi
xuống gỡ mớ tóc vàng lóe sáng. Rồi cô lại nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Một cơn gió thổi mạnh, cuốn cái mũ đội đầu của Cuốc đi. Anh
phải chạy theo rất xa. Cô gái chăn ngỗng chải tóc và cuốn thành
từng búp. Vua cha nhìn thấy tất cả. Không ai nhận ra ngài khi ngài
rời khỏi đó. Chiều đến, cô gái về nhà, ngài cho gọi cô đến và hỏi tại
sao cô lại làm như thế. "Tâu bệ hạ, con không thể nói được", - cô trả
lời. - "Con không thể kể nỗi khổ của con với bất cứ ai trên thế gian
này, con đã thề như vậy để khỏi bị người ta giết".
Vua cha cô ép cô nói, nhưng ngài không biết được gì thêm bèn
nói: "Nếu con không muốn nói với ta, thì con hãy kể nỗi khổ của con
với cái bếp lò này". Rồi ông bỏ đi. Cô đến ngồi gần cái bếp lò, than
khóc, thổ lộ tâm can:
"Ta ngồi đây, bị cả thế gian ruồng bỏ, dù ta là con vua. Một tên
thị nữ độc ác đã áp chế ta, bắt ta đổi cho nó quần áo hoàng cung. Nó
thay thế ta để làm vợ chưa cưới của người yêu ta, và ta bắt buộc
phải làm công việc bình thường của người chăn ngỗng. Nếu mẹ ta
biết nông nỗi này, tim bà sẽ tan nát".
Vua cha đứng ở phía tường bên kia gần ống thông hơi, ngài đã
nghe thấy hết. Ngài trở về và gọi cô hãy rời cái lò đến gặp ngài.
Người ta mang đến cho cô quần áo hoàng cung, cô mặc vào đẹp
như là có phép lạ. Vua cha cho gọi con trai đến và bảo cho con biết
về cô vợ chưa cưới giả mạo. Cô người yêu thật đứng trước chàng,
đấy là cô gái chăn ngỗng.
Hoàng tử thấy cô rất đẹp và phúc hậu nên lòng tràn ngập niềm
vui. Một bữa tiệc được sửa soạn để mời tất cả các bạn bè thân
thuộc. Hoàng tử và công chúa ngồi ở đầu bàn, trước mặt họ là con
thị nữ. Nó bị chỗáng ngợp và không nhận ra cô chủ trang sức lộng
lẫy. Khi họ đang ăn uống vui vẻ, vua cha ra một câu đố cho thị nữ.
Nó phải trả lời là một người đàn bà lừa dối chủ thì sẽ bị xử tội như
thế nào. Ngài kể các sự việc đã xảy ra và hỏi nó: "Như thế sẽ xứng
đáng với hình phạt gì". - "Nó xứng đáng phải đuổi đi khỏi đất nước"
- "Kẻ ấy chính là mày, mày sẽ bị xử tội như mày nói".
Sau khi hình phạt được thi hành, Hoàng tử cưới nàng công
chúa làm vợ và họ trị vì đất nước trong hòa bình và hạnh phúc.
Các em được nghe một câu chuyện về cuộc đời. Những người
hiền hậu, tốt bụng sẽ có hạnh phúc, còn những kẻ có tâm địa xấu xa
sẽ bị trừng phạt.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Cây củ cải

                         Ngày xưa có hai anh em đều đi lính. Anh thì giàu, em thì
nghèo. Người em không muốn sống nghèo khổ mãi, bỏ lính về làm
nông dân. Anh cuốc một vạt đất ở đầu cánh đồng và gieo hạt củ cải.
Mầm mọc, củ lớn dần, lớn dần, lớn không ngừng đến mức có thể coi
là củ cải chúa, chưa bao giờ từng có củ cải nào to như vậy và cũng
sẽ chẳng bao giờ sẽ thấy củ cải to như thế. Cuối cùng, nó thành một
củ cải khổng lồ, một mình nó có thể chiếm hết một xe chở và phải
gióng hai con bò để kéo xe. Bác nông dân không biết dùng củ cải ấy
làm gì và tự hỏi không biết đây là phúc hay là họa. Rút cuộc, bác tự
bảo: "Nếu mang bán thì người ta sẽ trả bao nhiêu? Nếu ăn củ cải
thì ăn những củ nhỏ cũng đến thế thôi. Tốt nhất là ta mang tiến
vua để tỏ lòng thành kính".
Bác khiêng củ cải lên một cái xe, gióng hai con bò, dắt xe đến
cung nhà vua để dâng vua.
- Cái vật kỳ lại này là cái gì vậy?" - Vua phán - Ta đã từng trông thấy
nhiều vật lạ, nhưng chưa thấy một vật khổng lồ như thế này, không biết mọc từ
cái hạt giống gì ra? Hoặc giả ngươi là phù thủy và đã đích thân làm ra củ này?
- Tâu bệ hạ, không phải thế đâu ạ - Bác nông dân trả lời - Thần
là một anh lính nghèo nuôi thân không xong nên phải thôi lính về
làm đất. Thần có một người anh giàu có, bệ hạ biết nhiều về anh ấy.
Nhưng thần thì không có gì, nên bị mọi người ruồng bỏ.
Nhà vua thương hại bác nông dân và phán:
- Nhà ngươi sẽ không nghèo đói nữa, ta sẽ ban cho ngươi của
cải để nhà ngươi cũng giàu như anh nhà ngươi.
Vua ban cho bác nông dân rất nhiều vàng, ruộng nương, đồng
cỏ và gia súc, đến mức bác trở nên rất giàu, của cải người anh
không sánh được.
Khi người anh biết là em trở nên giàu có nhờ có một cây củ cải,
thì anh ta ghen tức và nghĩ nát óc ra tìm một cách để cũng gặp may
như em. Anh láu hơn em, mang biếu nhà vua vàng và ngựa, nghĩ
rằng vua sẽ ban cho anh nhiều của cải hơn em. Nếu em ta chỉ biếu
nhà vua có một củ cải mà được vua ban cho chừng nấy của thì vua
sẽ ban cho ta biết mấy để đáp lại những tặng phẩm quý giá! Vua
nhận đồ dâng của anh và phán là không có gì quí hơn và hiếm hơn
là cây củ cải. Vua bèn cho anh cây củ cải to tướng. Người anh đành
chất cây củ cải của người em lên một cái xe rồi kéo về nhà.
Về đến nhà, người anh không biết trút cơn tức giận lên đầu ai
cho tới khi nẩy ra ý nghĩ độc ác là giết em. Anh thuê những kẻ giết
người và cho chúng nấp ở một nơi. Anh đến gặp em và bảo: "Chú ạ,
tôi biết nơi cất giấu một kho vàng, chúng ta cùng đi lấy rồi chia
nhau". Người em đi với anh, không nghi ngờ gì cả. Khi hai người đi
tới nơi đã định, những kẻ giết người nhảy xổ vào người em, trói em
lại và chuẩn bị treo cổ lên một cái cây. Khi chúng đang làm việc đó
thì ở xa có tiếng hát và tiếng vó ngựa vọng lại. Chúng sợ hãi nhét
người bị bắt - đầu lộn ngược - vào một cái bao, treo lên một cái cây
rồi chạy trốn. Ở trên cây, người em giãy giụa cho tới khi cái bao bị
thủng một lỗ, đầu lọt ra. Người đi tới chẳng qua là một cậu sinh
viên đi lang thang, một thanh niên đang vừa ruổi ngựa trong rừng
và hát vang lên. Người em ở trên cây thấy có người vừa qua bên
dưới bèn kêu to:
- Cậu đến thật đúng lúc!
Cậu sinh viên ngó quanh, không biết tiếng nói từ đâu ra. Cuối
cùng cậu nói:
- Ai gọi tôi thế?
Từ ngọn cây, người em trả lời:
- Hãy ngẩng lên mà nhìn. Tôi ở trên cao, trong một cái túi dạy
khôn. Trong một thời gian ngắn, tôi đã học được không biết bao
nhiêu điều hay; những điều học ở trường chẳng thấm vào đâu. Tôi
học sắp xong rồi, tôi sẽ xuống và tôi sẽ giỏi hơn mọi người trên thế
gian này. Tôi thông thiên văn, biết hướng đi của gió, cát ở ngoài
biển, cách chữa mọi bệnh tật, công dụng của cây cỏ, các loại chim và
các loại đá. Nếu anh chui vào đây, anh sẽ thấy ở trong túi dạy khôn
này hạnh phúc biết chừng nào.
Cậu sinh viên nghe thấy thế ngạc nhiên vô cùng và nói:
- Quả là trời phù hộ cho tôi được gặp bác. Bác làm ơn cho tôi
vào trong túi một lúc có được không?
Người em trả lời như có vẻ chần chừ: "Tôi cũng muốn để anh
chui vào một tí nếu anh đưa tôi một ít tiền và ăn nói tử tế, nhưng
anh hãy đợi một giờ nhé. Còn có điều tôi muốn học thêm đã".
Cậu sinh viên chờ một chốc, sốt ruột năn nỉ xin người em cho
chui vào vì anh nóng lòng muốn học khôn. Người em giả bộ như
cũng chiều ý cậu và nói:
- Muốn để tôi bước ra khỏi cái nhà dạy khôn này, anh hãy hạ
túi dọc theo cái dây thừng. Sau đó sẽ đến lượt anh vào".
Cậu sinh viên hạ người em xuống, mở túi cho anh chui ra. Sau
đó, cậu kêu lên:
- Giờ thì hãy kéo tôi lên cao nhanh lên!"
Rồi anh chui vào trong túi. "Hượm đã!" - người em nói, - "như
thế chưa được". Anh đẩy cậu sinh viên đầu lộn ngược vào túi, buộc
miệng túi lại rồi kéo lên cây. Anh đẩy cho cái túi đu đưa trên không
rồi hỏi:
- Cậu thấy thế nào hở cậu? Cậu thấy đấy, cậu cảm thấy khôn
ngoan đang đến đấy, cậu đã học được nhiều. Hãy cứ nằm im, cho
đến khi nào khôn ngoan hơn."
Sau đó, người em nhảy lên con ngựa của anh sinh viên và đi.
Được một giờ, anh cho người đến tháo cho cậu sinh viên xuống.
“Ở hiền gặp lành" là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nội dung của các
truyện cổ tích. Trong câu chuyện trên ca ngợi người em sống thật
thà thì luôn gặp may mắn, hạnh phúc. Người anh tham lam dù có
cố gắng đến đâu cũng không bao giờ đạt được mục đích.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Jôrinđơ và Jôgigơn

                         Ngày xưa, có một bà già sống một mình trong một tòa lâu đài
cổ giữa một khu rừng bao la, rậm rạp. Đó là một mụ phù thủy cừ
khôi. Ban ngày, mụ hóa thành mèo hoặc cú vọ. Đến chiều tối, mụ
lại hiện nguyên hình người. Mụ có tài dụ dỗ muông thú để giết lấy
thịt nấu nước ăn. Quanh lâu đài một trăm bước, ai đi đến tự dưng
đứng sững tại chỗ, chỉ bước đi được khi mụ phù thủy cho phép. Khi
một cô gái trong sạch lọt vào cái vòng ma quái đó thì mụ sẽ hóa
phép biến thành chim, mụ đem nhốt vào lồng rồi đặt lồng vào một
phòng của lâu đài.
Có một cô gái tên là Jôrinđơ, đẹp hơn tất cả các cô gái khác. Cô
đã hứa hôn với chàng trai tên là Jôringơn. Đôi trai gái sống những
ngày chờ cưới và quấn quít bên nhau.
Để được chuyện trò thoải mái, một hôm họ vào rừng dạo chơi.
- Em cẩn thận chớ đến quá gần lâu đài! - Jôringơn dặn.
Buổi chiều thật là đẹp. Mặt trời còn chiếu nắng qua các thân
cây thành các vệt sáng trên nền trời xanh thẫm của rừng. Chim gáy
gù rầu rĩ trên cây sồi.
Jôrinđơ thỉnh thoảng lại khóc lóc, ngồi dưới ánh nắng mà than
vãn, Jôringơn cũng than vãn. Họ xúc động như chết đến nơi. Họ
nhìn quanh, nhưng lại không tìm ra đường về nhà. Mặt trời đã
khuất một nửa sau rặng núi. Đúng lúc đó Jôringơn nhìn qua bụi
rậm thấy các bức tường cổ của lâu đài hiện ra sát bên mình. Anh sợ
hãi tái nhợt như người chết. Jôrinđơ hát:
- Con chim bé nhỏ của tôi đeo chiếc nhẫn vàng.
Rên rỉ buồn thảm, nó khóc than cái chết của con chim bồ câu
Jôringơn quay lại nhìn Jôrinđơ thì thấy cô đã hóa thành một
con chim họa mi đang hót. Một con cú có đôi mắt như lửa đỏ bay
quanh cô ba lần và kêu ba lần: "Hú! Hú! Hú!" Jôringơn không nhúc
nhích được. Anh đứng nguyên tại chỗ như phỗng đá, không khóc
được. Mặt trời đã lặn. Con cú bay vào bụi rậm và ngay sau đó một
mụ già gù từ trong bụi bước ra. Mụ gày gò, vàng vọt, có đôi mắt đỏ
rực, cái mũi khoằm và nhọn chấm sát cằm. Mụ làu nhàu, bắt chim
họa mi để lên tay mang đi. Jôringơn không nói gì được, không động
đậy được. Chim họa mi không còn ở đấy nữa. Cuối cùng, mụ già trở
lại nói giọng âm u: "Ta chào ngươi, đồ ngu. Khi nào trăng chiếu
sáng cái rổ nhỏ này là lúc xéo đi ngay, đồ ngu ạ". Thế là Jôringơn
thoát. Anh quỳ xuống chân mụ già, van xin mụ hãy tha cho
Jôrinđơ. Mụ trả lời là không bao giờ anh lại nhìn thấy mặt cô nữa,
rồi mụ đi. Anh gào khóc và rên rỉ nhưng vô ích: "Trời ơi! Cái gì sẽ
đến với tôi đây?". Jôringơn rời chỗ đó đến một làng quê xa lạ. Một
thời gian dài, anh chăn cừu. Nhiều lần anh đi quanh lâu đài, nhưng
không lại gần quá.
Một đêm, anh ngủ mê thấy mình được một bông hoa đỏ như
máu, ở giữa có một hạt ngọc to và đẹp vô cùng. Anh hái bông hoa,
tiến đến lâu đài. Hoa đụng vào cái gì thì cái đó liền thoát khỏi phù
phép. Anh cũng mơ thấy nhờ có bông hoa, anh lấy lại được Jôrinđơ.
Sáng sớm ngủ dậy, anh ra đi, trèo đèo, lội suối, đi tìm bông hoa như
đã mơ thấy. Anh đi tám ngày, sáng sớm ngày thứ chín, anh tìm
thấy bông hoa đỏ như máu. Một giọt sương to, đẹp như hạt ngọc đẹp
nhất trần gian, nằm ở giữa nhị hoa. Anh cầm hoa đi suốt ngày đêm
tới lâu đài. Khi còn cách một trăm bước, anh không bị đứng bất
động. Anh tiếp tục đi đến cửa lâu đài. Lòng tràn ngập vui sướng,
anh chạm bông hoa vào cửa. Cửa mở toang ra. Đi qua sân, anh vào
lâu đài. Anh lắng nghe chim hót một lúc. Rồi anh đi về phía có chim
hót. Anh tìm ra căn phòng mà ở đó mụ phù thủy đang cho chim ăn;
chim bị nhốt trong bảy nghìn chiếc lồng nhỏ. Khi mụ nhận ra
Jôringơn, mụ nổi giận, mụ giận dữ kêu thét ầm ĩ, phun thuốc độc
và mật đắng vào anh, nhưng mụ không tiến lại gần anh một
khoảng cách là hai bước. Anh không để ý gì đến mụ, tiếp tục đi
nhìn các lồng có nhốt chim. Anh thấy hàng trăm con chim họa mi.
Làm thế nào tìm được ra Jôrinđơ trong số chim đó? Trong khi chú ý
nhìn chim, anh nhận thấy mụ già rón rén đi lấy một cái lồng nhốt
một con chim rồi bước về phía cửa.
Anh nhẩy bổ lại gần mụ, chạm bông hoa vào cái lồng và mụ ta.
Thế là phép phù thủy mụ hết thiêng! Jôrinđơ hiện ra đứng đó, ôm
cổ anh, vẫn đẹp như xưa. Rồi anh giúp cho tất cả mọi con chim hoàn
nguyên hình thành thiếu nữ. Anh cùng Jôrinđơ về nhà và sống
hạnh phúc cho đến khi đầu bạc răng long.
Câu chuyện ca ngợi tình yêu bất diệt: tình yêu sẽ chiến thắng
tất cả những thế lực xấu xa nhất. Đồng thời kẻ gây tội ác bao giờ
cũng bị trừng trị thích đáng.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Lên thiên đàng

                         Ngày xưa, một bác bần nông có tuổi và ngoan đạo chết. Bác đến
trước cổng Trời. Một lãnh chúa rất giàu, chết cùng một lúc với bác,
cùng đến cổng Trời lúc bác đến. Thánh Pêtrux mang chìa khóa đến
mở cửa đón ông ta vào. Hình như thánh không thấy bác bần nông
nên đóng sập cửa lại. Đứng bên ngoài, bác bần nông nghe rất rõ
tiếng đàn hát đón chào lãnh chúa lên trời. Cuối cùng yên tĩnh trở
lại.
Thánh Pêtrux đến, mở cửa Trời cho bác nông dân vào. Bác
tưởng là cũng sẽ có đàn hát đón chào. Nhưng bốn bề lặng ngắt. Dĩ
nhiên cuộc tiếp đón thân mật; các thiên thần ra đón bác. Nhưng
không có ca hát. Bác bần nông hỏi Thánh Pêtrux tại sao người ta
không ca hát đón bác như đón vị lãnh chúa. Bác thấy hình như ở
trên trời cũng bất công như ở trần gian.
Thánh Pêtrux bèn trả lời:
- Không phải đâu, chúng tôi quý bác như bất cứ một người nào
khác. Bác sẽ được hưởng thú vui trên trời này như vị lãnh chúa
giàu có kia. Nhưng bác phải hiểu là những người bần nông như bác
thì ngày nào cũng có người lên trời. Nhưng lãnh chúa giàu có thì
hàng trăm năm họa có một người.
Câu chuyện muốn nói lên rằng: ở bất cứ đâu cũng có người tốt
kẻ xấu cho dù đó là thiên đàng, nơi mà mọi người quan niệm ở đó có
nhiều hạnh phúc, công bằng nhất.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Hênxen và Grêten

                         Ngày xưa có hai vợ chồng một bác tiều phu nghèo khó, sống ở
ven một khu rừng lớn. Gia đình có hai con. Con trai tên là Hênxen,
con gái tên là Grêten. Nhà không đủ ăn. Một năm, trời làm đói
kém, miếng bánh hàng ngày cũng chẳng có. Tối hôm ấy, chồng nằm
trằn trọc mãi, thở dài bảo vợ:
- Chả biết rồi sao đây? Lương thực cạn rồi, lấy gì nuôi con?
Đói khổ khiến người mẹ đâm ra nhẫn tâm. Hết đường xoay xở,
vợ bảo chồng:
- Thầy nó ạ, biết sao đây! Ngày mai, sớm tinh mơ, tôi với nhà
đưa chúng vào rừng rậm, đốt lửa lên, cho mỗi đứa một mẩu bánh
rồi bỏ chúng đấy mà đi làm. Chúng không biết đường mà về, thế là
rảnh.
Chồng đáp:
- Nhà nó ạ, tôi chịu không làm thế được đâu. Nỡ nào đem bỏ
con vào rừng cho thú đói ăn thịt!
- Thầy nó thật là điên. Không làm thế thì chết đói cả bốn mạng,
chỉ còn việc bào gỗ đóng săng mà thôi.
Người vợ lèo nhèo mãi, kỳ đến lúc chồng phải làm theo ý mình.
Chồng nói:
- Nhưng tôi vẫn thương xót chúng nó lắm!
Hai đứa trẻ đói quá không ngủ được, nghe được hết. Grêten
khóc sướt mướt, bảo Hênxen:
- Anh em mình chết đến nơi rồi.
Hênxen đáp:
- Em đừng lo buồn, anh sẽ có cách thoát chết.
Chờ lúc bố mẹ ngủ rồi, nó dậy mặc áo, mở cửa, lén ra ngoài.
Trăng sáng. Sỏi trắng ở trước nhà lóng lánh như bạc. Hênxen nhặt
sỏi bỏ đầy túi áo, rồi về nhà bảo Grêten:
- Em ơi, cứ yên trí mà ngủ đi.
Rồi nó lại đi ngủ.
Tang tảng sáng, mặt trời chưa mọc thì mẹ đã đến đánh thức
hai con:
- Đồ lười! Dậy đi, còn phải vào rừng lấy củi chứ!
Rồi mẹ đưa cho mỗi con một mẩu bánh dặn:
- Chúng mày cầm lấy mà ăn trưa. Chớ có ăn nghiến ngấu
trước, không còn nữa mà cho đâu.
Grêten bỏ bánh vào túi áo và Hênxen đã bỏ đá đầy túi rồi. Cả
nhà cùng nhau đi vào rừng.
Đi được một lát, Hênxen chốc chốc lại dừng lại ngoảnh về mé
nhà. Bố thấy vậy bảo:
- Hênxen, sao mày cứ lùi lại nhìn gì mãi thế? Liệu đấy, đừng có
dềnh dàng.
Hênxen đáp:
- Con nhìn con mèo trắng của nhà ngồi trên mái từ biệt con
đấy.
Mẹ nói:
- Đồ ngốc! Không phải con mèo đâu, đấy là ống khói phản chiếu
ánh mặt trời đấy.
Hênxen lùi lại không phải để nhìn mèo, mà cốt để rắc sỏi trắng
ra đường.
Khi đến giữa rừng, bố nói:
- Chúng mày hãy đi nhặt củi, còn bố đốt lửa để chúng mày khỏi
rét.
Hênxen và Grêten đi nhặt củi khô xếp thành đống. Khi ngọn
lửa đã cao, củi cháy nỏ, mẹ nói:
- Thôi bây giờ chúng mày nằm gần lửa mà nghỉ. Tao và bố đi
đẵn củi, xong sẽ quay về đón.
Hai đứa trẻ ngồi bên lửa. Đến trưa, chúng lấy bánh ra ăn.
Nghe thấy tiếng bổ vào cây, chúng tưởng bố chúng ở gần đấy.
Nhưng không phải tiếng rìu của bố, mà đó chỉ là tiếng cành cây bị
gió đập vào cây khô.
Chúng ăn xong, mắt díp lại vì mệt, liền ngủ một giấc say. Khi
chúng thức dậy thì trời đã tối như mực. Grêten khóc nói:
- Bây giờ làm thế nào mà ra khỏi rừng được?
Hênxen dỗ em:
- Em cứ đợi một lát, chờ trăng lên, chúng mình sẽ tìm được lối
về nhà.
Khi trăng mọc, Hênxen cầm tay em theo vết sỏi lóng lánh như
tiền mới mà lần về nhà. Chúng gõ cửa. Mẹ mở, thấy Hênxen và
Grêten liền nói:
- Đồ khốn kiếp, sao chúng mày ngủ kỹ ở trong rừng thế? Tao cứ
tưởng chúng mày không muốn về nữa.
Bố thấy con về thì mừng lắm vì trong thâm tâm bố không
muốn bỏ con.
Sau đó ít lâu, trời lại làm đói kém khắp nơi.
Một đêm hai anh em nghe thấy mẹ nằm trên giường nói với bố:
- Mọi thứ lại hết sạch rồi. Chỉ còn có nửa cái bánh ăn nốt là hết
nhẵn. Phải tống chúng nó đi. Lần này ta đem bỏ chúng vào rừng
sâu hơn trước để chúng không tìm được lối về. Bằng không thì
không còn cách nào thoát.
Người chồng không đành lòng nghĩ bụng:
- Thà chia nhau với con ăn miếng bánh cuối cùng còn hơn.
Vợ không nghe, chửi chồng thậm tệ, cho là đã chót thì phải
trét, lần trước đã theo ý mụ thì lần này cũng phải theo.
Hai đứa trẻ chưa ngủ, nghe hết những chuyện bố mẹ bàn nhau.
Khi thấy bố mẹ đã ngủ rồi, Hênxen dậy định ra ngoài nhặt sỏi như
lần trước. Nhưng mẹ nó đã khóa cửa mất rồi, nó không ra được. Nó
dỗ em gái:
- Em ạ, đừng khóc nữa, em cứ ngủ yên đi, anh sẽ có cách.
Sáng sớm tinh mơ, mẹ kéo cổ chúng dậy, cho mỗi đứa một mẩu
bánh bé hơn lần trước.
Dọc đường đi đến rừng, Hênxen cho tay vào túi bẻ vụn bánh mì
ra và chốc chốc lại dừng lại rắc bánh xuống đất.
Bố hỏi Hênxen:
- Sao mày cứ hay dừng chân ngoảnh lại thế? Đi đi.
Hênxen đáp:
- Con nhìn con chim bồ câu của con nó đậu trên mái nhà để
chào con kia kìa.
Mụ đàn bà nói:
- Đồ ngốc, không phải là chim bồ câu đâu mà là cái ống khói có
mặt trời chiếu vào đấy.
Dù sao, dọc đường, Hênxen cũng rắc được hết bánh.
Mụ đàn bà dẫn hai con vào tít chỗ rừng sâu mà từ thủa cha
sinh mẹ đẻ mụ chưa tới bao giờ. Sau khi đốt lửa cháy to lên, mụ nói:
- Chúng mày ngồi đó. Lúc nào mệt thì ngủ đi một tí. Tao với bố
mày đi đẵn gỗ, chiều tối xong sẽ quay lại đón chúng mày.
Đến trưa Grêten chia bánh cho anh vì bánh của anh đã rắc ở
dọc đường rồi. Ăn xong, chúng ngủ. Tối đến, chẳng ai đến đón hai
đứa bé đáng thương cả.
Đêm tối như mực, hai đứa thức giấc, Hênxen dỗ em gái:
- Em ạ, chờ cho trăng lên, trông rõ bánh anh đã rắc, thì ta lại
tìm thấy đường về.
Trăng vừa mọc lên thì hai đứa đứng dậy đi, nhưng chẳng thấy
tí bánh nào vì hàng ngàn con chim trong rừng đã ăn mất cả rồi.
Hênxen bảo em:
- Thế nào rồi chúng ta cũng sẽ tìm được đường.
Nhưng chúng không tìm ra đường. Chúng đi suốt cả đêm, suốt
cả ngày hôm sau, mà không ra được khỏi rừng. Hai anh em bụng
đói như cào mà chỉ nhặt được ít quả dại ở dưới đất.
Chúng mệt quá, bước không nổi, nằm lăn ra ngủ dưới gốc cây.
Chúng xa nhà đã ba ngày rồi.
Chúng lại đi, đâm sâu mãi vào rừng, và nếu không gặp ai cứu
giúp thì đến chết đói, chết mệt thôi.
Giữa trưa, chúng thấy một con chim đẹp, trắng như tuyết đậu
trên cành hót hay lắm. Chúng liền dừng lại để nghe. Chim hót xong
xòe cánh bay trước mặt chúng. Chúng theo chim đến tận một túp
nhà con; chim đến đậu trên mái nhà ấy. Chúng lại gần thấy nhà xây
bằng bánh mì, lợp bằng bánh ngọt, cửa sổ bằng đường trắng tinh.
Hênxen nói:
- Thôi ổn rồi. Chúng ta được bữa ăn ngon đấy. Anh ăn một góc
mái nhà, còn em ăn một mảnh cửa sổ, ngọt đấy.
Hênxen giơ tay bẻ một mảnh mái nhà để nếm thử và Grêten
đứng bên cửa kính nhấm nháp một mảnh. Bỗng trong nhà có tiếng
người nhẹ nhàng vọng ra:
- Ai gặm nhà ta đấy?
Hai đứa trẻ đáp:
- Gió đấy! Gió đấy! Con trời đấy!
Rồi hai đứa cứ việc ăn, không e ngại gì cả.
Hênxen thích ăn mái nhà, bẻ một miếng tướng, và Grêten cũng
gỡ lấy cả một khung kính tròn xuống.
Bỗng cửa mở, một bà lão bé nhỏ chống nạng rón rén bước ra.
Hai anh em sợ rụng rời, đánh rời hết cả các thứ cầm trong tay. Bà
lão lắc lư đầu, nói:
- Các cháu yêu dấu, ai đưa các cháu đến đây? Các cháu đừng
sợ, cứ vào. Ở đây với bà, bà không làm gì đâu.
Bà lão dắt hai đứa vào, cho ăn ngon: sữa, bánh tráng đường,
táo và hạnh đào. Rồi bà sửa soạn hai cái giường nhỏ xinh đẹp trắng
tinh cho hai đứa trẻ ngủ. Hai đứa bé ngỡ là ở trên thiên đàng.
Nhưng mụ già chỉ giả bộ tử tế ngoài mặt đó thôi. Đó là một mụ
phù thủy gian ác rình bắt trẻ con nên làm nhà bằng bánh kẹo để
nhử chúng. Khi thấy hai đứa bé vừa tới, mụ đã cười nham hiểm mà
nói đùa:
- Chúng mày vào tay bà rồi, có bay lên trời cũng chẳng thoát
được tay bà.
Sáng sớm, mụ dậy trước hai đứa, thấy chúng ngủ thật đáng
yêu, má hồng phinh phính, mụ lẩm bẩm:
- Thật là món ngon.
Mụ đưa đôi tay khô héo ra nắm lấy Hênxen đem nhốt vào một
cái cũi nhỏ, đóng cửa chấn song lại. Thằng bé kêu gào mãi mụ cũng
mặc kệ.
Rồi mụ đánh thức Grêten dậy bảo:
- Đồ con gái lười chảy thây, đi dậy lấy nước làm một bữa ngon
cho anh mày. Nó ở trong cũi kia, tao muốn nó chóng béo. Khi nào
nó thực béo, tao sẽ ăn thịt.
Grêten khóc thảm thiết, nhưng nào có ích gì, vì con mụ phù
thủy sai gì phải làm nấy.
Hênxen được ăn thức ăn nấu nướng ngon lành còn Grêten phải
ăn thừa.
Sáng nào mụ già cũng lê đến bên cũi bảo Hênxen:
- Giơ ngón tay tao xem đã béo chưa.
Hênxen chỉ đưa cho mụ xem một cái xương nhỏ. Mắt kém, mụ
tưởng đó là ngón tay thật, lấy làm lạ sao không thấy béo.
Được một tháng vẫn không thấy Hênxen béo lên chút nào mụ
đâm ra sốt ruột, không muốn chờ nữa. Mụ gọi Grêten:
- Con Grêtên đâu? Nhanh lên, đem nước lại đây, thằng Hênxen
dù béo hay gầy, ngày mai tao cũng cứ làm thịt đem nấu.
Khốn nạn con bé vừa xách nước vừa khóc, nước mắt dòng dòng
hai má. Nó kêu la:
- Lạy trời phù hộ cho chúng con. Thà để thú dữ ăn thịt trong
rừng thì hai anh em cũng được cùng nhau chết.
Mụ già bảo:
- Thôi đừng kêu khóc nữa mà vô ích.
Mới bảnh mắt, Grêten đã phải đặt nồi, lấy nước và dóm bếp.
Mụ già bảo:
- Hãy nướng bánh trước đã. Tao đã dóm lò và nhào bột rồi.
Mụ đẩy Grêten đáng thương tới bên lò.
Ngọn lửa trong lò đã bắt đầu bốc lên. Mụ già bảo:
- Mày bò vào lò xem đủ nóng chưa, để cho bánh vào nướng.
Mụ định khi Grêten vào lò rồi thì đóng nắp lại, quay ăn một
thể. Nhưng Grêten biết ý nói:
- Cháu không biết làm thế nào mà vào được.
Mụ già nói:
- Đồ ngu như bò, lò có cửa khá rộng cơ mà. Trông đây này, tao
vào cũng còn lọt nữa là mày.
Mụ lại gần lò và thò đầu vào. Grêten liền đẩy mạnh mụ vào,
đóng cửa sắt lại, rồi cài then ở ngoài.
Mụ già rú lên khủng khiếp nhưng Grêten đã bỏ chạy để mặc
mụ chết thiêu. Em chạy thẳng đến cũi vừa mở cửa cho anh vừa reo:
- Anh ơi, anh em ta thoát rồi, con mụ phù thủy đã chết rồi.
Cửa vừa mở thì Hênxen nhảy ra như con chim trong lồng được
thả. Hai anh em vui mừng, ôm nhau hôn. Bây giờ chúng không còn
sợ gì nữa, chúng đi xem nhà mụ già thì thấy ở xó nào cũng có
những hòm đầy ngọc.
Hênxen vừa ních đầy túi vừa nói:
- Của này quí hơn sỏi.
Còn Grêten nói:
- Em cũng phải lấy về nhà mới được.
Lấy đầy túi rồi, em nói:
- Bây giờ hai anh em ta đi ra khỏi khu rừng của mụ phù thủy
đi.
Đi được vài giờ, chúng đến bên một cái đầm lớn. Hênxen nói:
- Anh không thấy có cầu, qua sao được?
Grêten bảo:
- Một chiếc thuyền nhỏ cũng chẳng có. Nhưng kia có vịt trắng
đang bơi, để em nhờ nó giúp.
Rồi em bảo vịt rằng:
- Vịt ơi vịt, Grêten và Hênxen đây. Kè chẳng có, cầu cũng
không, Hãy cõng anh em tôi qua với.
Vịt đến. Hênxen cưỡi lên lưng vịt và bảo em lên ngồi cạnh
mình.
Em đáp:
- Thôi anh ạ, ngồi thế nặng quá. Để vịt cõng từng người một.
Vịt tốt bụng cõng làm hai chuyến.
Đến bờ bên kia, hai anh em nhận dần ra đường lối trong rừng
quen thuộc, và nhìn thấy nhà ở đằng xa. Chúng liền chạy ba chân
bốn cẳng, nhảy bổ vào nhà, ôm ghì lấy cổ bố mẹ.
Từ ngày bỏ con trong rừng, bố mẹ không lúc nào vui.
Grêten dốc túi ngọc xuống đất và Hênxen thò tay vào túi lấy ra
từng nắm ngọc.
Từ đó, cả nhà hết lo và cùng nhau sống một cuộc đời hạnh
phúc.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Chú Hanh lười biếng

                         Hanh tính lười biếng. Chú chẳng phải làm gì khác ngoài việc
hàng ngày chăn một con dê ở ngoài cánh đồng. Ấy vậy mà chiều tối,
hết ngày, về nhà, chú còn thở ngắn than dài: "Chăn dê ngoài đồng
cả năm, cho đến tận cuối thu quả là một gánh nặng, một việc vất
vả". Giá mà có thể nằm ngủ lại đi một nhẽ! Nhưng không! Luôn
luôn phải mở mắt ra để canh, sợ dê nó phá hoại cây non, nhảy qua
rào vào vườn, hoặc từ đó chạy trốn. Thế thì còn làm thế nào được
nghỉ ngơi một chút cho thoải mái!" Chú ngồi suy nghĩ tìm cách trút
được cái gánh nặng. Một thời gian dài, chú không tìm ra được cách
gì. Nhưng rồi một hôm, bất chợt, trong đầu lóe ra một ý nghĩ như là
cái màng che mắt rơi xuống: "Mình biết là phải làm gì rồi!" Chú kêu
lên. "Mình chỉ cần lấy cô Tơrinô đẫy đà thôi. Cô ta cũng có một con
dê. Cô ta sẽ chăn con dê của mình cùng với con dê của cô ả. Như
vậy, mình sẽ không còn tự mình phải làm khổ mình mãi nữa".
Hanh bèn đứng dậy và cử động đôi chân, đôi tay mệt mỏi. Chú
tạt ngang đường (đường cũng không còn xa) mà đến nhà bố mẹ cô
Tơrinô đẫy đà xin cưới cô gái chăm chỉ và đức hạnh. Bố mẹ cô
không loại trừ: "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", hai cụ nghĩ bụng và
nhận lời ngay lập tức. Thế là cô Tơrinô đẫy đà làm vợ chú Hanh và
chăn cả hai con dê. Chú Hanh sống thoải mái, không còn phải nghĩ
ngợi đến công ăn việc làm nữa mà chỉ còn nghỉ ngơi do cái mệt của
lười biếng gây ra, thỉnh thoảng chú đi chăn cừu cùng cô và bảo cô:
"Tôi chỉ làm để hưởng được cái thú nghỉ ngơi thôi. Nếu không sẽ
không tận hưởng được cái thú đó!"
Cô Tơrinô đẫy đà cũng lười biếng không kém gì chồng. "Anh
Hanh yêu quý của em ơi, - một hôm cô bảo anh, - tại sao chúng ta
phải sống cơ cực khi không cần thiết, để phí hoài ngày xanh? Hai
con dê của chúng mình sáng nào cũng kêu be be đánh thức chúng
mình dậy giữa lúc đang ngủ ngon. Tại sao chúng mình không đổi
cho bác hàng xóm lấy một đõ ong? Chúng mình sẽ chỉ việc đặt đõ
ong ở đằng sau nhà, ở một góc có nắng và không còn mất công chăm
sóc gì nữa. Không cần phải canh ong, hoặc dẫn chúng ra đồng. Ong
tự bay đi, tự tìm đường về nhà và tự làm ra mật mà ta không cần
phải bận tâm đến".
"Em đúng là một người đàn bà thông minh, - Hanh nói - Chúng
ta sẽ thực hiện ý đó tức thì. Cũng phải nói thêm là mật ong ngon
hơn và bổ hơn sữa dê, lại để được lâu hơn".
Bác hàng xóm bằng lòng đổi đõ ong lấy hai con dê. Không mệt
mỏi, ong bay đi bay lại, từ sáng đến tối làm đầy đõ mật ngon. Khi
mùa thu hái đến, Hanh thu hoạch được một vò mật đầy. Hai vợ
chồng đặt vò mật lên cái giá ở đầu giường. Như vậy, là có thể với
được gậy để đuổi những khách không mời mà đến, mà không phải
nhổm dậy. Chú Hanh lười biếng không ra khỏi giường trước lúc
giữa trưa. "Kẻ nào dậy sớm, - chú tự nhủ, - là phung phí của cải".
Một buổi sáng, mà chú Hanh vẫn còn nằm ườn trong chăn để
cho đỡ mệt và ngủ. Chú bảo vợ: "Trước khi em ăn hết mật, tốt nhất
là ta đem mật đổi lấy một con ngỗng mẹ với một con ngỗng con".
Tơrinô cãi ngay lại: "Nhưng phải đợi đến lúc nào ta có đứa con để
nó chăn ngỗng rồi hãy đổi. Tôi là tôi không chịu chăn ngỗng cho
mệt và mất sức, khi không cần thiết".
"Em tưởng là con nó sẽ chăn ngỗng à? - Hanh nói - Thời buổi
này, trẻ con không vâng lời nữa đâu. Chúng chỉ làm theo ý chúng vì
chúng cho là chúng khôn hơn bố mẹ. Ấy cứ y như là cái thằng đầy
tớ nọ phải tìm bò mà lại chạy theo ba con sáo".
"Ồ! Nó cứ liệu hồn nếu nó không làm theo lời em! Em sẽ lấy
gậy nện cho nó túi bụi. Rồi anh sẽ thấy, anh Hanh ạ, - cô hăng lên
hét và vơ lấy cái gậy dùng để đuổi chuột, - em sẽ đánh nó thế này
này, cô khua cái gậy và chẳng may va phải cái vò mật ong đặt ở đầu
giường. Vò va vào tường vỡ thành nghìn mảnh. Mật ong ngon lành
chảy khắp mặt đất.
"Đấy là ngỗng mẹ và ngỗng con, - Hanh nói - Không cần phải
chăn ngỗng nữa. Cũng còn may là vò mật không rơi xuống đầu.
Chúng ta thật quả là còn mừng vì số hãy còn may". Nhìn thấy một
ít mật còn dính ở mảnh vò vỡ, chú nói thêm một cách vui vẻ: "Nhà
nó ạ, giờ chúng ta nhấm nháp chút mật còn sót lại này, rồi nghỉ
ngơi cho quên nỗi khủng khiếp vừa rồi. Chúng ta có dậy muộn hơn
thường ngày một chút cũng không hề gì. Ngày cũng đủ dài cơ mà!".
- Đúng rôi, - Tơrinô trả lời, - làm tốt thì lúc nào chả được. Anh
biết chuyện con ốc sên đi dự đám cưới rồi chứ. Nó lên đường, và khi
đến nơi là lúc đứa con chịu lễ rửa tội. Đến trước nhà, nó va vào
tường, bèn nói: "Vội vàng là không hay!".
Các em được đọc một truyện rất bổ ích. Truyện đã nêu lên một
bài học: kẻ lười biếng thì không thể làm được việc gì mà còn bị mọi
người chê cười.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Con quỷ và bà nó

                         Ngày xưa xảy một cuộc chiến tranh lớn. Nhà vua có rất nhiều
lính, trả lương cho họ quá ít, không đủ để sống. Có ba người lính
bèn rủ nhau đào ngũ.
"Nếu họ bắt được chúng ta, họ sẽ treo cổ chúng ta. Vậy thì làm
thế nào bây giờ?", người thứ nhất nói.
Người thứ hai nói:
- Cách anh hãy trông cánh đồng lúa bát ngát kia. Nếu chúng ta
trốn trong đó thì không ai có thể tìm thấy được chúng ta. Quân đội
không được phép sục vào ruộng lúa. Ngày mai thì đơn vị mình đã
chuyển quân đi nơi khác.
Thế là họ chui vào ruộng lúa, nhưng quân đội không di chuyển
đi đâu mà ở nguyên vị trí chung quanh đó. Ba người lính trốn trong
ruộng lúa hai ngày, hai đêm. Họ đói lả như sắp chết đến nơi. Họ
không dám ló ra vì sợ chết. Họ bảo nhau: "Trốn trong ruộng lúa này
không được tích sự gì cả. Chúng ta sẽ chết và thối rữa ra ở đây mất
thôi".
Đúng lúc đó, có một con rồng lửa bay trên trời qua đó. Nó xà
xuống gần họ và hỏi tại sao lại trốn ở đấy. Họ trả lời: "Chúng tôi là
ba người lính, chúng tôi đào ngũ vì lương ít quá. Giờ thì chúng tôi
sẽ chết đói ở đây hoặc người ta sẽ treo cổ chúng tôi nếu chúng tôi ra
khỏi đây"
- Nếu các anh đồng ý phục vụ ta bảy năm, Rồng nói, - ta sẽ đưa
các anh lên cao, bay qua cả cánh quân lớn mà không ai chạm được
vào các anh.
- Chúng tôi làm gì có quyền lựa chọn, đành bằng lòng thôi. Họ
trả lời.
Rồng quắp họ vào móng, đưa họ khỏi cánh quân khá xa, rồi lại
để họ xuống đất. Rồng đâu phải ai khác, chính nó là con quỷ. Nó
đưa cho họ một cái roi nhỏ và bảo: "Các anh hãy tự đánh vào người
bằng cái roi này, ở trong người các anh sẽ tuôn ra số tiền mà các
anh cần có; các anh sẽ sống sung sướng như ông hoàng, tha hồ lên
xe xuống ngựa. Nhưng sau bảy năm, các anh sẽ thuộc về ta". Nó
đưa cho ba người lính một quyển sách và bảo ký tên vào đó. Nó lại
nói thêm:
- Lúc đó sẽ ra cho các anh một câu đố, nếu giải được thì các anh
sẽ được tự do và thoát khỏi quyền lực của ta". Nói xong, con rồng
bay đi.
Ba người lính bắt đầu sử dụng cái roi. Họ có nhiều tiền, họ đi
may quần áo sang trọng và đi chu du thiên hạ. Ở đâu họ cũng sống
vui và xa hoa, lên xe xuống ngựa, ăn uống thỏa thích nhưng họ
không làm điều gì xấu. Thời gian trôi đi rất nhanh, và bảy năm sắp
qua. Hai người lính cảm thấy tim thắt lại vì sợ hãi. Trong khi đó,
người thứ ba vẫn còn nhìn mọi việc với khía cạnh tốt. Anh nói: "Các
cậu ạ, đừng sợ! Tớ có phải là đồ ngu đâu! Tớ sẽ giải được câu đố!"
Họ cùng đi ra cánh đồng, ngồi xuống. Hai người đầu mặt mày rầu
rĩ.
Lúc đó, có một bà già đi tới. Bà hỏi tại sao họ buồn thế? - "Dào
ôi! Cụ biết thì có ích gì cho cụ đâu? Dù sao, cụ cũng không giúp gì
được chúng tôi!"
- Biết đâu đấy! Cụ trả lời, - các anh hãy tin ta, hãy kể ta nghe
nỗi lo lắng của các anh.
Họ kể với bà cụ là đã thành người hầu của con quỷ trong bảy
năm. Nó đã cung cấp cho họ tiền tiêu tha hồ, và họ sẽ thuộc hẳn về
nó nếu sau bảy năm, họ không giải được một câu đố. Bà già nói:
"Nếu các anh muốn ta giúp đỡ, thì một người trong các anh phải
vào rừng. Anh ta sẽ đến một tảng núi bị sập, nom như một cái nhà.
Anh ta phải vào trong nhà ấy và sẽ được giúp đỡ".
Hai người lính đầu buồn rầu nói: "Có làm việc đó cũng không đi
đến đâu cả", rồi ngồi ỳ ra. Người thứ ba luôn luôn vui vẻ, đứng dậy
đi vào rừng; anh đi mãi cho tới khi tới cái nhà ở tảng núi sập. Trong
nhà có một cụ già ngồi như phỗng đá. Đó là người đàn bà của quỉ.
Cụ hỏi anh, ở đâu đến và muốn gì. Anh kể cụ nghe những việc đã
qua. Vì anh được lòng bà cụ nên cụ thương hại anh và hứa sẽ giúp
anh. Cụ nhấc hòn đá to che lối vào một cái hầm và bảo: "Anh hãy
trốn vào đấy. Anh sẽ nghe thấy mọi lời nói. Hãy bình tĩnh và đừng
có bị kích thích, khi rồng về, ta sẽ hỏi nó về câu đố. Nó sẽ nói hết
với ta. Còn anh, anh hãy lắng nghe các câu nó trả lời".
Đến nửa đêm, rồng về và đòi ăn. Bà nó dọn ra bàn ăn rượu và
đồ nhắm để nó vui lòng. Họ cùng nhau ăn uống. Trong khi nói
chuyện, bà nó hỏi nó về các chuyện xảy ra trong ngày, và nó đã
chiếm được bao nhiêu linh hồn. "Hôm nay, cháu không gặp may -
nó trả lời. Nhưng cháu đã bắt được ba thằng lính, chắc chắn cháu
sẽ chiếm được linh hồn những thằng này" - "Ba người lính à! Bà cụ
hỏi, đó là những trai tráng, có thể chúng nó sẽ thoát tay mày".
Con quỉ nói với giọng khinh miệt: "Chúng thuộc về cháu mà.
Cháu sẽ ra cho chúng một câu đố mà chúng không giải được" - "Câu
đố thế nào?" bà hỏi,
- Để cháu nói và nghe: ở biển Bắc bao la có một con mèo biển
chết, nó sẽ được mang rán và cháu sẽ cho chúng ăn. Một cái xương
sườn cá voi sẽ dùng làm thìa và một cái móng ngựa cũ dùng làm cốc
cho chúng uống rượu vang.
Khi con quỉ đi ngủ, người bà nhấc hòn đá lên, cho người lính ra.
- Anh đã nghe thấy hết chưa?
- Thưa cụ rồi ạ, cháu đã biết kha khá và cái đó sẽ giúp cháu.
Anh lính trèo qua cửa sổ không một tiếng động, và vội vào đi
tìm các bạn. Anh kể cho họ nghe là người bà sẽ giương bẫy lừa con
quỷ thế nào và anh đã học được cách giải câu đố. Cả bọn đều vui vẻ,
mặt mày hớn hở, cầm roi đánh vào người và tiền vung ra khắp bốn
phía.
Bảy năm đã trôi qua. Con quỉ mang quyển sách đến, chỉ cho họ
những chữ ký và bảo:
- Ta sẽ dẫn các anh xuống địa ngục, ở đấy các anh sẽ được ăn
một bữa. Nếu các anh đỗán sẽ được ăn thịt gì rán, thì các anh sẽ
được tự do và được giữ lại cả cái roi nữa.
Lúc đó người lính thứ nhất bắt đầu nói:
- Ở biển Bắc bao la, có một con mèo biển chết. Chắc chắn nó sẽ
được rán cho bọn tôi ăn.
- Con quỷ nổi giận, nói "Hừ! Hừ! Hừ!" và hỏi người lính thứ hai:
"Nhưng các anh lấy gì làm thìa?" - "Một cái sườn con cá voi sẽ dùng
làm thìa". Con quỉ tái mặt đi, lại làu nhàu ba lần: "Hừ! Hừ! Hừ!" và
bảo người lính thứ ba: "Anh có biết là cái gì sẽ dùng làm cốc uống
rượu vang không?" - "Một cái móng ngựa cũ sẽ dùng làm cốc uống
rượu vang cho chúng tôi".
Quỷ liền bay đi và thét to lên. Nó không còn quyền lực gì đối
với ba người lính. Còn ba người lính thì giữ lại được cái roi, họ làm
ra rất nhiều tiền tùy theo ý muốn và sống sung sướng đến hết đời.
Các em vừa đọc được câu chuyện nói về sự thông minh của con
người. Không có thế lực nào có thể thắng được con người cho dù đó
là quỷ, một nhân vật huyền thoại có sức mạnh siêu nhiên.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Ả Grêten thông minh

                         Ngày xưa có một cô ả nấu bếp tên là Grêten. Ả thường đi giày
gót đỏ khi dạo chơi. Ả ngó đông ngó tây, thích chí nghĩ bụng mình
cũng vào loại xinh đấy chứ . Về đến nhà, ả cao hứng uống ngụm
rượu vang; Ả nếm tất cả những món ăn ngon nhất ả đã nấu, nếm
đến no nê. Ả nói: "Người nấu bếp là phải biết món ăn mình nấu vị
ra sao chứ!".
Một hôm ông chủ bảo ả:
- Grêten này, tối nay nhà có khách mày hãy thịt hai con gà
mái, mà nấu cho ngon nhé!
- Thưa ông, xin ông hãy để cháu lo - Grêten trả lời.
Ả giết hại con gà mái, nhúng nước sôi, làm lông, xiên vào xiên,
đến chiều thì mang quay trên lửa. Gà vàng dần và đã vàng rộm đều
mà khách vẫn chưa đến, Grêten thưa với chủ:
- Thưa ông, nếu khách chưa đến thì cháu phải nhấc con gà ra
khỏi lửa. Thật là đáng tiếc. Gà vừa chín tới, tí nữa ăn ngay thì ngọt
thật.
Chủ nói:
- Thôi để tao chạy đi gọi khách ngay!
Chủ vừa quay lưng đi thì Grêten nhấc gà ra khỏi lửa và nghĩ:
"Đứng gần lửa mãi vừa nóng vừa khát. Biết bao giờ khách mới đến?
Trong khi chờ, mình phải xuống hầm uống ngụm rượu vang đã". Ả
chạy xuống hầm, lấy một cái vò rượu rồi nói: "Lạy chúa phù hộ cho
con" rồi uống một hơi dài. "Rượu đã chảy là chảy mạnh, ả nói, khó
mà ngừng được". Ả lại uống tiếp một cách thoải mái. Ả lại chạy lên
bếp, đặt gà lên lửa, phết bơ và vui vẻ quay cái xiên. Gà quay thơm
điếc mũi. Ả nghĩ bụng hãy còn thiếu cái gì đó, phải nếm xem sao. Ả
nhúng ngón tay vào nước xốt, liếm và nói: "Ồ! Nhưng con gà mái
này ngon tuyệt! Không ăn ngay thì thật là có tội, thật đáng xấu
hổ!".
Ả chạy ra cửa sổ nhìn xem ông chủ và khách đã về chưa.
Nhưng ả chẳng thấy ai cả. Ả lại quay về với những con gà và nghĩ:
"Một cánh bị cháy, tốt nhất là chặt đi". Ả chặt cái cánh và ăn ngon
lành. Ăn xong một cánh, ả tự bảo: "Mình phải chặt nốt cái cánh kia
đi, nếu không ông chủ về thấy có gì thiếu". Ả xơi cả cái cánh, rồi ra
cửa sổ xem chủ về chưa nhưng không thấy ai! Ai mà biết được ông
ấy chợt nghĩ ra cái gì! không thấy bọn họ trở về, có thể là đi đâu
đấy.
Ả nói: "Này Grêten ạ, việc gì phải thắc mắc! Khi bắt đầu ăn con
gà thì hãy uống nữa đi và chén nốt đi! Sau đó thì sẽ yên tâm. Tại
sao lại phí của giời thế!". Ả lại chạy xuống hầm, uống ra trò, rồi lại
chén nốt con gà một cách vui vẻ.
Thế là ăn hết sạch một con gà. Chủ thì vẫn chưa về. Grêten liếc
nhìn con gà thứ hai và nói: "Phải cho con này đi theo con kia thôi,
không thể tách chúng ra được. Đối xử với con kia thế nào thì hẳn là
đối xử với con này cũng phải thế. Mình cho là nếu có uống thêm
một chút, thì cũng chẳng hại gì". Ả lại phấn khởi uống, con gà thứ
hai cũng chạy theo con thứ nhất.
Khi ả đang ăn ngon lành thì ông chủ về - "Nhanh lên, Grêten!
Ông gọi to khách đến ngay bây giờ đấy" - "Thưa vâng, Grêten trả
lời, xong ngay đây ạ". Ông chủ đến bàn ăn xem sắp xếp đã đủ chưa.
Ông mang con dao để cắt thịt đi mài.
Đúng lúc đó, khách gõ cửa khe khẽ, lịch sự. Grêten ra cửa, thấy
khách thì đưa ngón tay lên môi ra hiệu và nói: "Khéo chứ! Khéo
chứ! Ông hãy mau chạy ngay đi! Nếu chủ tôi trông thấy ông thì
nguy cho ông đấy. Chủ tôi mời ông đến ăn nhưng cốt để xẻo đôi tai
ông đấy. Ông có nghe thấy tiếng mài dao không?"
Khách nghe quả là đúng có tiếng mài dao, vội ba chân bốn cẳng
chạy xuống cầu thang. Grêten lúc đó cũng vội chạy lên chỗ ông chủ
mồm loa mép giải: "Ông ơi, khách của ông sao mà quí hóa thế!" "Ô
mày nói gì lạ vậy, Grêten?" - "Ông ta cướp của cháu hai con gà đặt
trên đĩa rồi biến đi" - "Tệ quá! Ông chủ nói, tiếc rẻ hai con gà ngon -
ít ra thì ông ta cũng phải để lại một con cho mình chứ!".
Ông gọi to mời khách trở lại, nhưng khách giả đò không nghe
thấy. Ông liền chạy theo khách, dao hãy còn cầm ở tay và réo: "Một
thôi! Một thôi!" ý nói là khách ít ra cũng phải để lại một con gà.
Nhưng khách lại hiểu là chủ đòi một cái tai, nên chạy lao như gió,
để mong giữ được cả hai tai nguyên vẹn về nhà.
Câu chuyện đã cho thấy sự khôn khéo của người ở và gây cười
cho người đọc. Nói lên quan hệ giữa chủ và tớ - Ông chủ kém thông
minh thường bị người ở khôn ngoan lừa.


                                                     Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim

Bà lão chăn ngỗng

                         Ngày xưa có một bà già nua, sống cùng đàn ngỗng tại một nơi
hẻo lánh giữa núi rừng. Bà ở trong một căn nhà nhỏ. Chúng quanh
có một khu rừng lớn. Sáng nào bà cũng chống nạng lẩy bẩy đi vào
rừng. Bà bận nhiều việc lắm, một người nhiều tuổi như bà tưởng
khó có thể làm nổi: đi kiếm cỏ cho ngỗng, hái quả dại vừa tầm tay
với, vác cả lên lưng về nhà.
Trông thì tưởng chừng bà vác nặng đến ngã khuỵu xuống mất,
nhưng cũng may là bao giờ bà cũng mang về được tới nhà. Bà gặp
ai cũng chào hỏi niềm nở:
- Chào người bà con. Hôm nay trời đẹp nhỉ! Bà con thấy già đi
tha cỏ về thì chắc lấy làm lạ lắm nhỉ, ai mà chẳng phải vác gánh
nặng của mình trên lưng.
Tuy vậy, thiên hạ không thích gặp bà lão, họ thường đi đường
vòng để tránh bà. Khi một ông bố cùng con trai đi qua mặt bà, ông
khẽ bảo con:
- Con phải coi chừng mụ già này. Mụ ấy thâm hiểm lắm. Đó là
một mụ phù thủy đấy.
Một buổi sáng, có chàng thanh niên đẹp trai đi qua rừng. Trời
nắng, chim kêu ríu rít, gió mát thổi qua cành lá, lòng chàng lâng
lâng vui sướng. Chàng chẳng gặp một ai. Bỗng chàng nhìn thấy bà
phù thủy đang cắt cỏ bằng liềm. Bà đã nhét vào tay nải một mớ
nặng, cạnh đó còn có hai giỏ đầy lê và táo dại.
Chàng nói:
- Này bà lão, bà làm thế nào mà mang hết đi được?
Bà già đáp:
- Thưa ngài, thế mà tôi vẫn phải mang cho được đấy. Con nhà
giầu có đâu cần như vậy. Nhưng nông dân thường nói: "Thôi đừng
ngó quẩn ngó quanh làm gì! Cái lưng người vốn nó phải còng."
Chàng đứng bên bà, bà bèn bảo:
- Thế chàng giúp già một tay có được không? Lưng chàng còn
thẳng, chân còn cứng, đối với chàng thì dễ thôi. Nhà già cũng gần
đây, trên cái bãi hoang kia, ở ngay sau núi, chàng chạy một lát thì
đến ngay đấy mà.
Chàng thanh niên thương hại bà lão, trả lời:
- Quả cha tôi không phải là nông dân, mà là một v? bá tước
giàu có, nhưng thôi cứ để tôi mang giúp bà chiếc tay nải kia.
Bà già nói:
- Nếu chàng cố giúp cho thì quý hóa quá. Chắc chắn là chàng
phải đi mất một giờ đấy, nhưng đối với chàng thì thấm vào đâu.
Chàng phải mang giúp cho cả táo và lê đến đấy nữa nhé!
Nghe nói đi mất một giờ thì vị bá tước trẻ tuổi hơi phân vân,
nhưng bà già không buông chàng ra, bà buộc khăn gói trên lưng
chàng, khoác đôi giỏ vào cánh tay chàng và nói:
- Chàng thấy chưa, cũng dễ thôi mà!
Bá tước vừa đáp vừa nhăn nhó:
- Đâu, không dễ đâu! Cái bọc nặng như là bọc đá ấy, lê táo cũng
nặng như chứ. Thở chẳng ra hơi nữa!
Chàng muốn trút tất cả mọi thứ, nhưng bà già không chịu. Bà
nói mỉa:
- Trông kìa! Có đời thuở nhà ai một vị trai tráng mà không chịu
mang cái mà một bà già như ta đã từng lê đi bao nhiêu lần. Nói
hay, nói đẹp thì sao mà mau thế! Hễ công việc thật thì chỉ muốn lẩn
thôi.
Bà nói tiếp:
- Sao chàng lại chần chừ, đứng ỳ ra như thế! Chịu khó nhấc
chân lên chứ. Không ai đỡ gói cho đâu.
Còn đi trên đất bằng thì chàng còn chịu nổi. Nhưng khi lên núi,
phải trèo, đá lăn dưới chân chàng y như chúng là những vật sống
thì thật là quá sức chàng. Mồ hôi nhễ nhại trên trán, chảy ròng
ròng xuống lưng chàng, khi thì nóng bốc lên, khi thì lại lạnh toát
sống lưng. Chàng nói:
- Bà già ơi, tôi không chịu nổi nữa, cho tôi nghỉ một tí.
Bà già đáp:
- Không nghỉ ở đây được. Để đến nơi đã, hãy nghỉ. Bây giờ cứ đi
đi. Biết đâu thế chả là điều hay cho chàng.
Bá tước nói:
- Mụ già kia, mụ thật hỗn xược.
Chàng định vứt chiếc khăn gói đi, nhưng loay hoay mãi mất
công toi. Khăn gói dính chặt vào lưng chàng y như là nó mọc từ
lưng ra. Chàng quay cuồng, vặn vẹo mãi mà không tài nào thoát ra
được.
Bà già thấy vậy cười và nhảy nhót trên đôi nạng một cách
khoái trá. Bà nói:
- Chàng ơi, xin chàng chớ tức giận, mặt chàng đã đỏ chín lên
như gà chọi rồi. Chàng cứ chịu khó đeo khăn gói đi, đến nhà, già sẽ
thưởng cho xứng công.
Chàng biết làm sao bây giờ? Chàng đành tuân theo số phận,
nhẫn nhục lê theo bà già. Bà ta có vẻ mỗi lúc một lanh lẹn, còn
chàng thì thấy gánh trên vai mỗi lúc một thêm nặng. Rồi bỗng bà
nhún người nhảy một cái, ngồi trên khăn gói.
Bà gầy khẳng khiu như cái cọc rào, mà sao nặng hơn cả một
mụ nông dân béo? Chàng thanh niên lảo đảo, nhưng nếu chàng
không chịu đi thì bà lây roi và cành gai đánh vào chân chàng.
Chàng không ngừng rên rỉ, trèo lên núi, mãi đến khi sắp khuỵu
xuống mới tới nhà bà. Đàn ngỗng thấy bà già gọi thì vỗ cánh vươn
cổ lên, chạy ra đón và kêu quang quác. Một mụ đã có tuổi, mạnh
khỏe to lớn, xấu như ma lem, cầm roi theo sau đàn ngỗng. Bác ta
bảo bà lão:
- Mẹ ơi, có việc gì mà sao lâu thế?
Bà lão đáp:
- Con cứ yên tâm, chả gặp điều gì dữ cả. Trái lại, chàng đây lại
mang giúp cho mẹ. Này con ạ, khi mẹ mệt chính chàng ta lại cõng
mẹ trên lưng nữa. Thành ra đường đi không thấy xa, đi rất vui vẻ
và luôn luôn đùa giỡn với nhau.
Mãi sau bà già mới chịu tụt xuống, đỡ khăn gói khỏi lưng
chàng, lấy giỏ khỏi tay chàng, thân mật nhìn chàng và bảo:
- Thôi bây giờ, chàng hãy ngồi ở chiếc ghế dài trước cửa mà
nghỉ. Chàng thật đáng được trả công một cách xứng đáng. Mà nhất
định là có thôi.
Rồi bà bảo mụ chăn ngỗng:
- Con hãy vào trong nhà, con ạ. Con đứng một mình với chàng
trai trẻ thật là không tiện, không nên đổ dầu vào lửa. Chàng ta có
thể mê con đấy.
Bá tước chẳng biết nên cười hay nên khóc. Chàng nghĩ bụng: đồ
của thừa như thế, giá có trẻ hơn ba chục tuổi cũng chẳng làm cho
mình rung động được.
Trong khi ấy, bà lão vuốt ve đàn ngỗng như con, bà cùng mụ
con gái vào nhà. Chàng thanh niên ngả mình trên chiếc ghế dài ở
gốc một cây táo. Không khí êm dịu, ấm áp. Chung quanh rải ra một
đống cỏ xanh rờn, đầy hoa ngọc châu, hoa bách lý và hàng trăm thứ
hoa khác. Một con suối trong veo, lóng lánh ánh mặt trời chảy
ngang. Đàn ngỗng trắng nhởn nhơ đi qua đi lại hoặc lội bì bõm dưới
nước. Chàng nghĩ bụng:
- Ở đây thật là yêu kiều, nhưng ta buồn ngủ quá, mắt cứ díp
lại. Ta phải ngủ đi một tí mới được. Chỉ mong đừng có cơn gió nào
thổi bay đôi chân mình đi, chân mình đã nhũn ra như bùi nhùi mất
rồi.
Chàng ngủ được một lát thì bà già đến lay dậy, bà bảo:
- Dậy đi, chàng ơi! Chàng không ở lại đây được đâu, quả là già
đã làm cho chàng vất vả, nhưng cũng chưa hại gì đến tính mạng.
Giờ thì già trả công cho chàng. Tiền bạc và của cải thì chàng không
cần đến, để ta cho thứ khác.
Nói rồi, bà nhét vào tay chàng một chiếc hộp nhỏ làm bằng một
viên ngọc xanh nguyên khối và dặn:
- Chàng hãy giữ hộp này cẩn thận, nó sẽ mang phúc đến cho
chàng.
Bá tước vùng dậy, cảm thấy trong người khoan khoái, lại sức,
cảm ơn bà già rồi lên đường, không buồn quay lại nhìn con gái xinh
đẹp của bà lấy một lần. Chàng đi được một quãng đường vẫn còn
nghe thấy tiếng ngỗng kêu vui vẻ từ xa vọng lại.
Bá tước phải lang thang ba ngày trong rừng hoang mới tìm ra
được lối đi. Chàng đến một thành phố lớn. Ở đấy không ai biết
chàng. Người ta dẫn chàng đến cung điện. Vua và hoàng hậu đã
ngự triều. Bá tước quì xuống, rút chiếc hộp bằng ngọc xanh ở túi ra
để xuống chân hoàng hậu. Bà truyền cho chàng đứng dậy, chàng
cầm lấy chiếc hộp dâng lên bà vừa mở ra xem thì ngã xuống đất bất
tỉnh nhân sự. Bá tước bị bọn thị vệ nắm chặt lấy định đem tống
ngục. Nhưng hoàng hậu mở mắt, truyền phải tha chàng. Bà đuổi
mọi người ra và muốn tiếp chuyện riêng chàng.
Khi chỉ còn mình bà với bá tước, hoàng hậu khóc lóc thảm thiết
và bà nói:
- Giàu sang phú quí đối với ta có làm gì, vì sáng nào ta thức
dậy cũng phải lo âu phiền não. Ta có ba con gái, con gái út đẹp
nhất, thiên hạ coi là của quí kỳ diệu. Da nó trắng như tuyết, má nó
hồng như táo, tóc nó rực rỡ như ánh sáng mặt trời. Khi nó khóc,
không phải giọt lệ thường, mà là hạt châu, hạt ngọc ở mắt nhỏ ra.
Năm nó mười lăm tuổi, vua cho đòi ba chị em nó đến trước ngai
vàng. Chàng không thể tưởng tượng quần thần trố mắt ra nhìn thế
nào khi đứa thứ ba bước vào. Thật y như mặt trời mọc. Vua phán
"Các con ạ, cha không biết ngày nào cha chết. Hôm nay, cha muốn
quyết định xem sau khi cha chết, mỗi con được hưởng gì. Các con
đều yêu cha cả, nhưng con nào yêu cha tha thiết nhất sẽ được
hưởng cái quý nhất". Cô nào cũng nhận là yêu cha tha thiết nhất.
Vua hỏi: "Các con hãy nói xem các con yêu cha thế nào. Cha sẽ hiểu
được lòng các con". Cô cả nói: "Con yêu cha như yêu đường ngọt
nhất". Cô thứ hai nói: "Con yêu cha như yêu chiếc áo đẹp nhất của
con". Cô thứ ba lặng thinh. Vua cha liền hỏi: "Thế nào, con yêu ta
như thế nào?". Cô đáp: "con không biết lấy gì ví lòng con yêu cha".
Nhưng vua cha đòi cô phải nói lên cái gì để ví. Sau mãi cô mới nói:
"Món ăn ngon nhất mà thiếu muối thì con không thể ăn ngon được.
Do đó con yêu cha như muối". Vua cha nghe vậy, nổi giận phán:
"Nếu mày yêu ta như muối thì ta sẽ lấy muối thưởng tấm lòng của
mày". Vua liền chia giang sơn làm đôi cho hai cô con gái lớn và sai
bược lên lưng cô đi một bị muối, rồi cho hai người nông nô dẫn cô
vào rừng hoang.
Hoàng hậu nói tiếp:
- Tất cả chúng tôi đều van xin, nhưng vua vẫn không nguôi
giận. Chao ôi! Con tôi nó khóc lóc thảm thiết làm sao khi nó phải từ
bỏ chúng tôi. Suốt dọc đường rơi đầy châu ngọc ở mắt nó tuôn ra.
Sau đó ít lâu, vua hối hận vì đã quá nhẫn tâm. Vua cho đi tìm đứa
con đáng thương khắp trong rừng nhưng chẳng ai thấy nó. Ta cứ
nghĩ nó bị thú dữ ăn thịt là ta lại buồn rầu. Đôi khi, ta tự an ủi với
hy vọng là nó vẫn còn sống, chui rúc trong một cái hang nào đó hay
nương tựa ở nơi nào có người thương hại. Chàng có thể tưởng tượng
được không, khi ta mở chiếc hộp con bằng ngọc xanh của chàng ra,
ta thấy có một hạt ngọc đúng như hạt lệ ở mắt con ta nhỏ ra. Chàng
hiểu tại sao ta thấy ngọc mà lòng ta xúc động. Chàng phải nói cho
ta biết làm sao ngọc ấy lại vào tay chàng.
Bá tước kể lại cho hoàng hậu biết là chàng nhận được ngọc của
một bà lão trong rừng, có vẻ khả nghi lắm, chắc là một mụ phù
thủy. Chàng không hề nghe nói gì về công chúa hoặc trông thấy
nàng. Vua và hoàng hậu quyết định đi tìm bà lão vì nghĩ là ngọc ở
đâu ắt là có thể tìm ra tung tích con mình ở đó.
Bà lão ngồi ở ngoài trời, chỗ bãi hoang, kéo sợi bên chiếc
giường. Trời đã tối. Ở dưới bếp, một thanh củi hắt ra ánh sáng leo
lắt. Bỗng ở ngoài có tiếng ồn ồn, ngỗng từ đồng cỏ về nhà, kêu
quang quác ầm lên. Một lát sau, một người đàn bà bước theo vào.
Bà lão chả buồn chào đáp lại người ấy, chỉ khẽ gật đầu. Người đàn
bà lại ngồi bên mẹ cầm guồng quay sợi nhanh nhẹn như một thiếu
nữ. hai người ngồi vậy hai giờ, không nói với nhau nửa lời. Mãi sau
có tiếng động khẽ ở cửa sổ. Rồi có đôi mắt sáng như lửa chằm chằm
nhòm vào. Đó là một con cú, nó hú lên ba lần. Bà già ngẩng lên
nhìn một tí rồi bảo:
- Con ạ, đã đến lúc con đi ra làm việc rồi con ạ.
Người đàn bà đứng dậy đi ra. Bác đi đâu vậy? Bác băng qua
đồng cỏ, đi mãi đến thung lũng. Sau đó bác đến một dòng suối, trên
bờ có ba cây sồi cổ thụ. Trong khi ấy mặt trăng tròn và to đã lên
quá đỉnh núi. Trăng sáng đến nỗi có thể tìm được cái kim nhỏ. Bác
bỏ miếng da úp trên mặt ra rồi xuống suối rửa. Xong xuôi, bác
nhúng miếng da vào nước rồi đặt xuống đồng cỏ để phơi khô và cho
bạc màu dưới ánh trăng. Bác biến đổi khác hẳn. Chưa ai được thấy
một người đẹp đến thế! Mái tóc hoa râm vừa rơi xuống thì mớ tóc
vàng sổ ra như ánh mặt trời, phủ lên khắp người như một chiếc áo
khoác. Đôi mắt cô thiếu nữ sáng ngời như sao trên trời, đôi má ửng
hồng mịn dịu như hoa táo.
Nhưng cô gái xinh đẹp lại buồn rầu. Cô ngồi khóc thảm thiết,
nước mắt tuôn lã chã trên mớ tóc dài rơi xuống đất. Cô cứ ngồi mãi
cho đến khi trên cành cây gần đó có tiếng loạt xoạt, rào rào.
Cô nhảy chồm lên như con hoẵng nghe tiếng súng của người đi
săn, đúng lúc ấy mặt trăng bị mây che phủ. Chỉ trong giây lát, cô
lấy miếng da đắp lên mặt như cũ rồi biến đi như ngọn đèn bị gió
thổi tắt.
Cô run rẩy như lá liễu, bỏ chạy về nhà. Bà già đứng trước cửa.
Cô định kể lại sự việc xảy ra. Nhưng bà lão cười thân mật và bảo:
- Mẹ biết hết cả rồi.
Bà dẫn cô vào buồng và nhóm thêm một thanh củi nữa. Nhưng
bà không ngồi bên guồng nữa mà đi lấy một cái chổi quét tước sạch
sẽ.
Bà bảo cô:
- Tất cả mọi thứ đều phải tinh tươm, sạch sẽ.
Cô bảo:
- Này mẹ, nhưng sao khuya rồi mẹ mới bắt đầu làm việc? Mẹ
định làm gì?
Bà già hỏi:
- Thế con không biết mấy giờ rồi à?
Cô đáp:
- Chưa đến nửa đêm, nhưng đã quá mười một giờ rồi.
Bà nói tiếp:
- Thế con không biết cách đây ba năm, đúng ngày này năm ấy,
con đã đến đây với ta à? Vận hạn của con đã hết, chúng ta không
thể cùng ở với nhau nữa.
Cô gái sợ hãi hỏi:
- Trời ơi, mẹ yêu dấu, mẹ định bỏ con à! Con biết đi đâu bây
giờ? Con không có bạn bè, không có quê hương, con biết nương tựa
vào ai? Mẹ muốn gì, con đều đã làm cả, có bao giờ con làm phật ý
mẹ đâu. Xin mẹ đừng đuổi con đi!
Bà già không muốn nói cho cô gái việc sắp xảy ra.
Bà bảo cô:
- Mẹ không thể ở đây lâu hơn nữa. Nhưng khi mẹ dọn đi thì
nhà cửa phải cho sạch sẽ. Vì vậy, con đừng làm cản trở công việc
của mẹ. Về phần con, chớ có lo ngại. Con sẽ tìm ra một mái nhà có
thể ở được. Con cũng sẽ hài lòng về công xá mẹ trả cho con.
Cô gái lại hỏi:
- Nhưng mẹ hãy nói cho con biết việc sắp xẩy ra.
- Mẹ bảo con lần nữa là đừng có quấy rầy mẹ trong khi mẹ bận
làm. Con đừng nói gì nữa, con cứ về phòng riêng bỏ miếng da che
mặt xuống, mặc chiếc áo lụa vào, chiếc áo mà con mặc khi con đến
với mẹ, rồi cứ đợi ở trong phòng cho đến khi mẹ gọi ra.
Nhưng để tôi kể cho các bạn nghe về việc vua và hoàng hậu
cùng bá tước ra đi tìm bà già ở bãi hoang. Ban đêm, vào rừng, bá
tước bị lạc vua và hoàng hậu nên phải đi một mình. Chàng đi mãi
đến xẩm tối. Chàng trèo lên một cây định ngủ qua đêm vì lo lạc
đường. Ánh trăng vừa tỏ xuống, sáng khắp vùng thì chàng thấy có
một bóng người thẫn thờ từ trên núi xuống. Người đàn bà không
cầm roi trong tay nhưng chàng nhận ra ngay là bác chăn ngỗng mà
chàng đã gặp ở nhà bà già trước kia. Chàng kêu lên:
- Chà, mụ ấy đây rồi. Ta đã vớ được mụ phù thủy này thì mụ
kia cũng không thoát được đâu.
Chàng rất ngạc nhiên khi thấy mụ đến bên suối, bỏ tấm da che
mặt ra rửa thì mớ tóc vàng xõa xuống cả người. Trên đời, chàng
chưa từng thấy có ai đẹp thế. Chàng nín thở, cố vươn cổ qua cành lá
nhìn không chớp mặt. Không hiểu tại chàng vươn quá xa hay tại
duyên cớ gì khác, bỗng cành cây kêu đánh rắc một cái và ngay lúc
đó cô gái lại đeo bộ da mặt vào, nhảy như con hoẵng khỏi nơi đó.
Cùng lúc ấy, mây che khuất mặt trăng, chàng không nhìn thấy
nàng nữa.
Nàng vừa biến mất thì bá tước trèo xuống, rảo bước theo sau.
Chàng đi được một lát thì thấy bóng tối lờ mờ, hai bóng người đi
trên đồng cỏ. Đó là vua và hoàng hậu. Hai người nhìn thấy xa xa có
ánh đèn trong chiếc nhà nhỏ của bà già bèn đi lại đó. Bá tước kể lại
những điều kì lạ chàng được nhìn thấy bên suối và hai người đinh
ninh đó là cô con gái bị lạc. Họ vui mừng đi tiếp và chẳng mấy chốc
tới căn nhà con. Chung quanh nhà, ngỗng nằm ngủ, đầu ấp vào
cánh, không con nào động đậy. Họ nhìn qua cửa sổ thấy bà lão ngồi
yên lặng, kéo sợi, đầu gật gù, không nhìn ngang ngửa.
Trong buồng sạch sẽ y như là nơi ở của những người ngoài trần
tục, chân không dính một tí bụi nào. Nhưng họ không nhìn thấy con
gái bà đâu cả. Họ đứng nhìn mọi thứ một lúc rồi đánh bạo, khẽ gõ
cửa sổ.
Hình như bà lão vẫn chờ họ nên bà đứng dậy một cách niềm
nở:
- Xin các vị cứ việc vào, già biết các vị rồi.
Khi họ vào buồng rồi bà lão nói:
- Nếu cách đây ba năm, các người đừng đuổi đưa con ngoan
ngoãn dễ thương một cách bất công thì có phải đỡ một quãng đường
dài không? Kể ra thì cũng chẳng thiệt hại gì cho cô ta, cô phải chăn
ngỗng ba năm thôi. Cô chẳng tiêm nhiễm điều gì xấu cả, cô vẫn giữ
được tấm lòng trong sạch. Các người đã bị trừng phạt khá đủ rồi vì
đã sống trong lo sợ.
Nói rồi, bà lão đi đến phòng gọi:
- Con ơi ra đi con.
Cửa mở, công chúa đi ra, mặc áo lụa, tóc vàng mắt sáng ngời.
Nàng đi tới cha mẹ, ôm choàng lấy cổ hôn. Lẽ dĩ nhiên là tất cả mọi
người đều khóc vì vui mừng. Vị bá tước trẻ tuổi đứng bên họ. Khi
nàng nhìn thấy chàng thì mặt nàng đỏ ửng như đỗá hoa hồng, chính
nàng cũng không biết tại sao.
Vua bảo:
- Con yêu dấu ơi, biết lấy gì cho con bây giờ, giang sơn của cha,
cha đã cho đi hết rồi.
Bà lão nói:
- Nàng không cần gì đâu. Già đã tặng cho nàng những giọt lệ
đã vì các người mà khóc. Đó toàn là ngọc cả, đẹp hơn hạt châu dưới
bể, quí giá hơn tất cả giang sơn nhà vua. Để trả công hầu hạ của
nàng, già để cho nàng căn nhà con của già.
Bà lão nói xong thì biến mất. Ở trên tường có tiếng nổ khe khẽ,
họ nhìn quanh thì thấy căn nhà nhỏ đã biến thành một tòa lâu đài
rực rỡ, tiệc hoàng gia dọn linh đình, kẻ hầu người hạ chạy đi chạy
lại tới tấp.
Câu chuyện còn tiếp diễn, bà tôi kể chuyện này trí nhớ kém
quá nên quên mất đỗån sau. Thôi thì tôi cứ cho là nàng công chúa
đẹp đẽ lấy bá tước, hai vợ chồng ở lại lâu đài, hưởng phúc trời cho.
Tôi không rõ nhưng tôi không ngờ những con ngỗng trắng như
tuyết chăn ở bên nhà cũng đều là những cô thiếu nữ (xin đừng ai
mếch lòng) mà bà cụ đã đem về nuôi, và có lẽ các cô ấy cũng đã hiện
nguyên hình để làm thị nữ cho bà hoàng hậu trẻ tuổi.
Có một điều chắc chắn là bà lão không phải là một mụ phù
thủy như người ta tưởng mà là một bà lão tốt bụng. Rất có thể đó là
bà mụ khi sinh ra công chúa đã chúc cho nàng khóc ra châu lệ chứ
không phải nước mắt thường. Ngày nay truyện ấy không xẩy ra
nữa, nếu không thì người nghèo khó chẳng mấy chốc trở nên giàu
có.
Các em có bao giờ ăn cơm mà không có muối chưa, chắc là chưa
đúng không nào? Vậy các em hãy thử bảo bố mẹ làm các món ăn mà
không cho muối xem sao! Ta coi muối là rất bình thường trong các
bữa ăn mà không biết nó quý giá đến chừng nào. Từ đó các em có
thể đỗán được tại sao nàng công chúa út lại quý cha như muối.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét